TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 7-8.2014
Ngày cập nhật 12/12/2014

   CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954-1975)

* Trần Văn Chánh. Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và phát triển.

  TÓM TẮT

   Bài viết trình bày một cách chi tiết, hệ thống về nền giáo dục ở miền Nam thời Việt Nam Cộng hòa (1954-1974). Qua đó, người đọc có thể nhận thấy nền giáo dục miền Nam trong giai đoạn này tuy còn nhiều khiếm khuyết trong quá trình xây dựng dang dở nhưng đã tỏ ra có chiều hường phát triển lành mạnh với những nỗ lực đầy thiện chí và sáng tạo của chính quyền cùng các giới hữu quan - công cũng như tư - đối với sự nghiệp giáo dục chung. Sự nhiệt huyết và cộng đồng trách nhiệm này biểu hiện một phần qua sự xuất hiện của hàng loạt sách báo rất phong phú bàn về công tác giáo dục, mà nội dung chủ yếu thiên về phê bình những mặt còn yếu kém nhiều hơn là đề cao mặt ưu điểm của nền giáo dục đương thời với hy vọng khắc phục, sửa chữa hầu tìm ra cho nó một hướng đi ngày càng thích hợp khả dĩ vừa phục vụ tốt cho công tác duy trì, phát huy tinh hoa truyền thống văn hóa đạo đức của dân tộc, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia.

   Mặc dầu chỉ tồn tại trong 20 năm, lại bị ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh và tình trạng bất ổn chính trị, nền giáo dục miền Nam đã có những đóng góp đáng kể, đáp ứng được nhu cầu học hỏi gia tăng nhanh chóng của người dân, và nói chung đã đào tạo ra được một lớp người không chỉ có học vấn và khả năng chuyên môn tốt mà còn có lương tâm chức nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao đối với xã hội và quốc gia.

* Cao Văn Thức. Giáo dục tiểu học và trung học ở miền Nam Việt Nam (1954-1975).

   TÓM TẮT

   Bài viết trình bày tổng quát tình hình giáo dục bậc Tiểu học và Trung học ở miền Nam thời Việt Nam Cộng hòa (1954-1975), từ đường hướng giáo dục đến tình hình học tập và hệ thống trường lớp, việc tổ chức thi cử, công tác đào tạo giáo chức và đời sống giáo chức, tổ chức bộ máy và công tác quản trị của ngành giáo dục từ trung ương đến địa phương... Qua đó có thể nhận thấy, dù tình hình chính trị-xã hội bất ổn do ảnh hưởng chiến tranh, chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì được một nền giáo dục mang tính đại chúng, tạo điều kiện rộng rãi đồng đều cho tất cả mọi người dân đều có cơ hội học tập bình đẳng trong một môi trường giáo dục nề nếp, lành mạnh và có chất lượng.

* Nguyễn Văn Nhật. Nền giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam trước 1975.

   TÓM TẮT

   Bài viết trình bày sơ lược quá trình hình thành hệ thống giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và nêu lên những nhận định tổng quát về nền giáo dục ấy dưới nhiều góc độ khác nhau. Qua đó, có thể nhận thấy, dù chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi 20 năm, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã nỗ lực xây dựng và duy trì một nền giáo dục đa dạng về loại hình cũng như lĩnh vực đào tạo, đảm trách được những sứ mạng trọng yếu của một nền giáo dục đại học đúng nghĩa, bao gồm việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học, cung cấp đầy đủ nguồn nhân lực cần thiết cho việc xây dựng và phát triển của quốc gia.

* Nguyễn Duy Chính. Vấn đề địa phương hóa giáo dục tại miền Nam trước năm 1975.

   TÓM TẮT

   Bài viết này là một chương trích từ luận văn tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh năm 1970 của tác giả Nguyễn Duy Chính, nhan đề “Vấn đề địa phương hóa giáo dục tại Việt Nam”. Đây là một chủ trương lớn nhằm cải tổ nền giáo dục ở miền Nam của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, được đặt ra vào năm 1964 và chính thức thi hành từ năm 1969. Mục đích của chủ trương này nhằm phân quyền giáo dục để các địa phương tự quản, để dân chúng, giáo chức, và chính quyền có cơ hội hợp tác chặt chẽ và tích cực đóng góp vào việc thực thi chính sách quốc gia giáo dục tại địa phương mình. Bài viết gồm 2 phần: Phần I trình bày tổng quát về kế hoạch địa phương hóa giáo dục, từ mục tiêu, diễn trình thực hiện đến các nội dung cụ thể. Phần II nêu lên nhận định của tác giả về những khó khăn trong quá trình triển khai kế hoạch, trước mắt cũng như lâu dài, và đề xuất các phương cách giải quyết.

* Khánh Uyên. Viện Đại học Sài Gòn và các trường trực thuộc.

   TÓM TẮT

   Bài viết giới thiệu tóm tắt quá trình thành lập và hoạt động của Viện Đại học Sài Gòn và 9 trường trực thuộc, bao gồm: Trường Đại học Luật khoa, Trường Đại học Khoa học, Trường Đại học Văn khoa, Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Y khoa, Trường Đại học Dược khoa, Trường Đại học Nha khoa, Trường Đại học Kiến trúc và Hải học viện Nha Trang. Qua đó người đọc có thể nắm được những nét cơ bản của nền giáo dục Đại học ở miền Nam trước năm 1975.

* Cao Văn Luận. Viện Đại học Huế: Vạn sự khởi đầu nan.

* Nguyễn Tuấn Cường. Giáo dục Hán học trong biến động văn hóa xã hội: Viện Hán học Huế (1959-1965).

  TÓM TẮT

   Viện Hán học Huế được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập vào cuối năm 1959, theo chủ trương của Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhằm “bảo vệ nền cổ học và văn hóa đạo đức của nước nhà do tổ tiên để lại”. Theo nghị định thành lập, Viện Hán học Huế là cơ quan kiêm nhiệm cả hai nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu Hán học ở miền Nam Việt Nam, trực thuộc Viện Đại học Huế, ngang hàng với các trường Đại học Văn khoa, Đại học Luật khoa...

   Vào giai đoạn mà xã hội Việt Nam nói chung, ở miền Nam nói riêng đang chuyển đổi theo hướng Âu Mỹ hóa mạnh mẽ trên nhiều mặt, thì việc thiết lập một đơn vị chuyên trách đào tạo và nghiên cứu văn hóa truyền thống là điều hết sức cần thiết, trước khi truyền thống ấy bị đứt gãy hoàn toàn với hiện tại do không có các nhân tố con người được đào tạo đến mức đủ khả năng kết nối. Tiếc thay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ trương đúng đắn ấy đã không thành công, Viện Hán học Huế chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, đến cuối năm 1965 thì bị giải thể.

   Từ số phận ngắn ngủi của Viện Hán học Huế, có thể rút ra những kinh nghiệm lịch sử hữu ích cho việc duy trì ngành đào tạo Hán Nôm trong các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam hiện nay.

* Trần Văn Chánh. Giáo dục tư nhân ở miền Nam trước 1975 qua bản Quy chế Tư thục.

   TÓM TẮT

   Bài viết giới thiệu toàn văn bản Quy chế Tư thục được ban hành dưới thời Đệ nhất Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam vào ngày 23 tháng 10 năm 1956, cho phép các loại trường tư được mở trong khuôn khổ luật pháp và dưới sự giám sát/ kiểm soát của chính quyền địa phương và của Bộ Quốc gia Giáo dục. Việc ban hành một văn bản pháp lý về giáo dục tư thục ngay từ khi mới bắt đầu tiếp quản nền giáo dục từ tay người Pháp cho thấy tầm nhìn và chính sách uyển chuyển của chính quyền miền Nam trong việc huy động một cách hiệu quả và trên cơ sở tự giác tiềm lực của toàn xã hội cho công cuộc giáo dục của đất nước.

* Dương Văn Ba. Học và dạy học thời Việt Nam Cộng hòa.

* Trần Văn Chánh. Chương trình giáo dục và sách giáo khoa thời Việt Nam Cộng hòa.

   TÓM TẮT

   Bài viết trình bày diễn tiến của chương trình giáo dục (tiểu học và trung học) và hệ thống sách giáo khoa (từ tiểu học đến đại học) ở miền Nam thời Việt Nam Cộng hòa. Qua đó, có thể nhận thấy chương trình học và sách giáo khoa thời kỳ này có cả những mặt ưu điểm lẫn khuyết điểm.

   Về chương trình học, mặt khuyết điểm tồn tại khá nhiều, bị nhiều người phê phán, cho là còn chịu ảnh hưởng của chương trình học cũ (thời phong kiến và thời Pháp thuộc) nên còn quá nặng mà lại thiên về thi cử, thoát ly khỏi thực tế cuộc sống. Tuy nhiên, các nhà chức trách giáo dục thời ấy đã biết lắng nghe và tiếp thu các ý kiến phê phán, nên qua nhiều lần sửa đổi, chương trình học ngày càng nhẹ đi, nội dung giảng dạy cũng sát với thực tế hơn, biểu hiện qua các chương trình giáo dục Tiểu học Cộng đồng và Trung học Tổng hợp.

   Về sách giáo khoa, ngoài Bộ Giáo dục, tư nhân có quyền tự do biên soạn và xuất bản sách giáo khoa dựa theo chương trình quy định của nhà nước. Nhờ tính cạnh tranh trong quyền tự do biên soạn và xuất bản của tư nhân và quyền chọn lựa của người sử dụng nên sách giáo khoa thời kỳ này rất phong phú, chất lượng ngày càng được cải tiến tốt hơn để đáp ứng nhu cầu của người học.

* Nguyễn Thị Ly Kha. Mô hình sách giáo khoa Việt ngữ bậc Tiểu học ở miền Nam trước năm 1975.

   TÓM TẮT

   Bài viết tìm hiểu về mô hình SGK Việt ngữ bậc Tiểu học ở miền Nam những năm 1955-1975, thời kỳ có nhiều bộ sách của nhiều nhóm tác giả biên soạn, do nhiều nhà xuất bản ấn hành. Nhưng các bộ sách đều tuân thủ một chương trình, đều chung mô hình phỏng giao tiếp, chú trọng tính tích hợp; và theo triết lý nhân bản, dân tộc, khai phóng.

   Do giới hạn của lịch sử, sách Việt ngữ bậc Tiểu học ở miền Nam trước 1975 không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định. Song đặc điểm một chương trình với nhiều bộ sách, chú trọng tích hợp... cùng triết lý nhân bản, dân tộc, khai phóng là những điểm mạnh không thể không lưu tâm khi chuẩn bị biên soạn SGK môn Tiếng Việt bậc Tiểu học trong giai đoạn mới.

* Châu Trọng Ngô. Nhìn lại nền giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975).

   TÓM TẮT

   Theo tác giả, nền giáo dục trước đây tại miền Nam đã đóng góp khá nhiều vào việc tạo nên một xã hội yên bình. Kết quả đó có được trước hết là nhờ xuất phát điểm của nền giáo dục phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc và văn minh nhân loại. Tiếp đến là nhờ sự ổn định của môi trường xã hội, xét trên cả khía cạnh đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần, bởi một xã hội tốt thì học đường và gia đình mới có thể trở nên tốt. Từ đó nghĩ về sự xuống cấp của nền giáo dục hiện nay, tác giả cho rằng phải chăng các chủ trương cải cách đưa ra đều chưa chạm đến những vấn đề cốt lõi quyết định sự thành bại nền giáo dục của đất nước.

* Vương Trí Nhàn. Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc.

   TÓM TẮT

   Tác giả bài viết là một người từ nhỏ được đào tạo theo cách giáo dục ở miền Bắc. Bài viết xuất phát từ những cảm nhận của tác giả trên đường tự nhận thức về nền giáo dục mình đã trải qua, khi lấy giáo dục miền Nam làm điểm đối chiếu, từ đó bước đầu làm rõ sự khác biệt giữa hai nền giáo dục trong giai đoạn 1954-1975.

   Hình thành trong những năm chiến tranh và để phục vụ chiến tranh, nền giáo dục miền Bắc - trong khi tự nhận là một nền giáo dục cách mạng - lại mang đặc điểm rõ nhất là sự phi chuẩn. Nền giáo dục này được làm một cách duy ý chí, bỏ qua khá nhiều những yêu cầu của mọi nền giáo dục từ xưa tới nay phải theo. Tính phi chuẩn này bộc lộ rõ nhất trong quan niệm về mục đích ý nghĩa của giáo dục và cách tổ chức bộ máy giáo dục.

   Về tất cả các phương diện cơ bản nói trên, giáo dục miền Nam được làm ngược với giáo dục miền Bắc. Điều này càng thấy rõ khi phân tích ba nguyên tắc căn bản dân tộc, nhân bản và khai phóng mà giáo dục miền Nam đề ra cho mình. Giáo dục miền Bắc có cách giải thích hoàn toàn khác về ba nguyên tắc ấy, thực chất là hoàn toàn xa lạ với những tiêu chuẩn của giáo dục hiện đại.

[In trang này ] [ Đóng ]