Tìm kiếm tin tức

Chung nhan Tin Nhiem Mang

MỘT SỐ KẾT QUẢ TRONG LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VÀ TRIỂN KHAI
Lượt đọc 24943Ngày cập nhật 12/08/2014

   Hơn 5 năm trở lại đây, lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng và triển khai được nhiều nhà khoa học của tỉnh Thừa Thiên Huế quan tâm. Hoạt động này đã góp phần tạo ra những sản phẩm khoa học có khả năng thương mại và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất. Nhiều sản phẩm đã được giới thiệu trong các hội chợ, chợ công nghệ và thiết bị, triển lãm... quy mô khu vực và quốc gia, đạt được giải cao trong các hội thi, giải thưởng các cấp, như các giống lúa, lạc, khoai đã được tuyển chọn; chế phẩm Pesudomonas phòng trừ các bệnh hại cây trồng; chế phẩm Bokashi trầu phòng trị bệnh cho tôm, cá; quy trình sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm tôm Rằn; quy trình nuôi thương phẩm cá Vược; quy trình sản xuất lợn lai ¾ máu ngoại; các giống nấm Linh Chi và quy trình nuôi trồng; các sản phẩm nano bạc; các quy trình sàng lọc, chẩn đoán trước sinh/sơ sinh; máy SASD-07 phát hiện hội chứng ngưng thở khi ngủ...

   Kết quả của hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và triển khai đã góp phần thực hiện các định hướng phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, xây dựng các luận cứ khoa học cho các chính sách cụ thể. Bài viết này xin giới thiệu một số kết quả điển hình thể hiện trên mỗi lĩnh vực nghiên cứu cụ thể sau đây.

   Lĩnh vực khoa học nông nghiệp

- Thông qua các đề tài, dự án, các nhà khoa học đã nghiên cứu tạo được các giống lạc, lúa có năng suất và chất lượng cao, phù hợp với điều kiện địa phương; chuyển giao quy trình kỹ thuật nuôi lợn hướng nạc, bò thịt; giới thiệu và áp dụng thành công các kỹ thuật mới để nâng cao năng suất chăn nuôi thông qua các mô hình trình diễn. Các kỹ thuật đó đã được nông dân tiếp nhận một cách tích cực và áp dụng có hiệu quả trong sản xuất. Ngày càng có nhiều người dân tham gia và áp dụng các kỹ thuật đã được giới thiệu.

- Dự án Nông thôn miền núi do trung ương ủy quyền địa phương quản lý “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng hiệu quả sản xuất một số cây trồng nhằm nâng cao đời sống đồng bào dân tộc ở miền núi A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế”do Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện A Lưới chủ trì thực hiện: đã ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng hiệu quả sản xuất một số loài cây trồng chủ yếu, xây dựng các mô hình nhân giống, sản xuất và chế biến cà phê quy mô nông hộ; mô hình sản xuất chuối tiêu Hồng; mô hình sản xuất khoai lang rau nhằm mục đích nâng cao đời sống đồng bào dân tộc miền núi huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế, góp phần ổn định an ninh, quốc phòng tại vùng biên giới, làm cơ sở cho việc tạo thêm việc làm, tăng năng suất cây trồng và thu nhập cho người dân tại vùng triển khai dự án, góp phần phát triển kinh tế-xã hội vùng nông thôn và miền núi một cách bền vững.

- Dự án Nông thôn miền núi do trung ương ủy quyền địa phương quản lý “Ứng dụng kỹ thuật phù hợp xây dựng mô hình ương giống tại chỗ và nuôi xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” do Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phú Vang chủ trì thực hiện: đã xây dựng được các mô hình nuôi xen ghép như tôm sú, rong câu, cá dìa, cua xanh… góp phần tăng hiệu quả kinh tế, cải thiện môi trường và bước đầu đã mang lại hiệu quả cao và hạn chế dịch bệnh.

- Đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu tuyển chọn và nhân giống một số giống cây có củ (khoai môn sọ, khoai mỡ) có khả năng chịu hạn phục vụ sản xuất ở vùng duyên hải miền Trung và Tây Nguyên” do khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm chủ trì: đã tuyển chọn và nhân giống các giống cây có củ năng suất cao phục vụ cho địa phương khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

- Đề tài “Nghiên cứu sản xuất que chẩn đoán nhanh bệnh ký sinh trùng Toxoplasma ở người và gia súc” do PGS, TS Đinh Thị Bích Lân, Viện Tài nguyên và Môi trường làm chủ nhiệm: đã mở ra triển vọng trong việc sản xuất que chẩn đoán nhanh bệnh ký sinh trùng Toxoplasma ở người và gia súc, góp phần giúp các địa phương trong khu vực phòng chống các bệnh truyền nhiễm của gia súc có khả năng lây lan cho người. 

- Đề tài “Nghiên cứu kit chẩn đoán nhanh virus cúm A ở gia cầm và thủy cầm” do PGS, TS Phạm Hồng Sơn, Trường Đại học Nông Lâm làm chủ nhiệm: đã định hình được bộ kit IHI thực hiện 11 phản ứng trên 1 khay microtitration 96 lỗ, đã chế kháng huyết thanh đặc hiệu của các virus Newcatsle, lở mồm long móng type O, type A, dịch tả lợn, chế kháng nguyên hồng cầu gắn các loại virus nêu trên.

- Dự án sản xuất thử nghiệm cấp nhà nước “Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất lợn lai 3/4 máu ngoại Duroc x (Pietrain x Móng Cái) phục vụ chăn nuôi lợn hướng nạc ở miền Trung” do PGS, TS Phùng Thăng Long làm chủ nhiệm: đã hoàn thiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và thú y phòng bệnh cho lợn nái lai F1 (Pietrain x Móng Cái); hoàn thiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và thú y phòng bệnh cho lợn 3/4 máu ngoại Duroc x (Pietrain x Móng Cái) nuôi thịt; đã xây dựng 2 mô hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và 2 mô hình chăn nuôi lợn thịt; sản xuất thử đủ số lượng lợn giống, lợn thịt và tinh dịch.

   Lĩnh vực khoa học kỹ thuật

- Thông qua thực hiện đề tài “Nghiên cứu phát triển phương pháp siêu âm-vi sóng chế tạo vật liệu sắt điện, áp điện trên cơ sở PZT có cấu trúc Nano” do TS Trương Văn Chương, Trường Đại học Khoa học Huế làm chủ nhiệm: đã thu được những kết quả khả quan trong nghiên cứu chế tạo, cấu trúc, vi cấu trúc và tính chất của vật liệu TiO2, ZrO2, ZnO… có cấu trúc nanô; đã chế tạo và nghiên cứu các tính chất sắt điện, áp điện của các vật liệu trên cơ sở PZT; đồng thời nghiên cứu các thông số tối ưu của quy trình công nghệ chế tạo vật liệu. Đề tài đã tạo ra được các sản phẩm cụ thể có khả năng ứng dụng trong thực tế như: các loại máy phát siêu âm: 04 máy rửa siêu âm dung tích 2 lít, công suất 100W; 01 máy rửa siêu âm dùng biến tử kép, dung tích 4 lít, công suất 150W; 01 máy rửa dạng ống, dung tích 2.5 lít, công suất 115W; 01 thiết bị tổng hợp vật liệu tần số 30kHz, công suất 155W; 01 máy siêu âm sử dụng trong diệt tảo tần số 32kHz, công suất 100W. Chế tạo được các loại vật liệu có cấu trúc nanô như: TiO2, ZnO, Ag, SiO2. Trên cơ sở đó đề tài đang triển khai sản xuất các thiết bị siêu âm phục vụ đời sống theo đơn đặt hàng.

- Dự án GISHue: đây là một dự án công nghệ cao đi tiên phong cho cả nước về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và cải cách hành chính. Việc đưa kết quả của dự án GISHue vào sử dụng là một bước tiến mới trong công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, kết quả của dự án được Trung tâm Thông tin dữ liệu điện tử, trực thuộc Sở Thông tin và Truyền thông quản lý và vận hành; các lớp cơ sở dữ liệu dùng chung của dự án bao gồm nền địa hình, điều kiện tự nhiên và tài nguyên môi trường, du lịch, địa chính… đã được tích hợp lên hệ thống để cung cấp cho các cơ quan hành chính nhà nước (qua mạng diện rộng-WAN) và người dân (thông qua môi trường internet).

- Đề tài “Ứng dụng các phương pháp nổ mìn vi sai cho các đơn vị có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” do Sở Công thương tỉnh Thừa Thiên Huế chủ trì thực hiện: lần đầu tiên tại Thừa Thiên Huế áp dụng thành công nổ mìn vi sai phi điện với lượng thuốc nổ 3.000kg/lần nổ. Đây là phương pháp nổ mìn vi sai toàn phần mang hiệu quả cao, an toàn, phù hợp với địa phương, giảm thiểu tác động môi trường, đặc biệt là giảm chấn động. Đề tài đã góp phần giúp cho các doanh nghiệp khai thác khoáng sản có cơ hội tiếp cận, học cách sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, phương pháp nổ mìn vi sai trên địa bàn.

- Đề tàiXây dựng phần mềm chữ Nôm, chữ Thái, chữ Chăm”: đã xây dựng được phần mềm chữ Nôm, chữ Thái, chữ Chăm; trang web Hán Nôm, trang web tra cứu chữ Thái, chữ Chăm.

   Lĩnh vực khoa học tự nhiên

- Đề tài “Nghiên cứu nấm dược liệu ở Thừa Thiên Huế” do TS, Ngô Anh, Trường Đại học Khoa học Huế làm chủ nhiệm: đã nghiên cứu đa dạng thành phần loài nấm dược liệu ở tỉnh Thừa Thiên Huế, xác định và lập danh lục 71 loài nấm dược liệu với 39 loài nấm dược liệu thuộc họ nấm Linh Chi, trong đó có 7 loài mới được công bố và bổ sung cho khu hệ nấm Việt Nam; đã xây dựng quy trình công nghệ nhân giống và nuôi trồng 7 loài nấm dược liệu thuộc họ nấm Linh Chi; đã thuần hóa và tuyển chọn được 17 chủng giống của 9 loài có năng suất cao và ổn định có thể ứng dụng trong sản xuất nấm dược liệu ở Việt Nam; xác định năng suất, mùa vụ nuôi trồng 9 loài nấm Linh Chi ở tỉnh Thừa Thiên Huế; xác định thành phần các hợp chất của 3 loài nấm dược liệu đã được nuôi trồng: Hoàng Chi, Cổ Linh Chi và Thanh Chi, góp phần chứng minh cho hoạt tính dược lý của các loài Linh Chi đã được nuôi trồng; chứng minh nấm Hoàng Chi là một loài nấm dược liệu quý.

- Đề tài “Nghiên cứu tách chiết Fucoidan đạt tiêu chuẩn thương mại từ một số loài rong nâu ở Thừa Thiên Huế” do PGS, TS Trần Thị Văn Thi, Trường Đại học Khoa học làm chủ nhiệm: nghiên cứu đã tách chiết polysaccarit sulfat tổng, tinh chế, phân tích định tính, định lượng polysaccarit sulfat, để đánh giá chất lượng fucoidan, bước đầu hoàn thiện quy trình tách chiết; xây dựng quy trình tách chiết fucoidan thương mại cho sản phẩm đạt tiêu chuẩn thương mại.

- Kết quả của đề tài “Nghiên cứu ứng dụng mô hình toán để dự báo sóng khu vực ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế” do PGS, TS Phùng Đăng Hiếu, Viện Nghiên cứu quản lý Biển và Hải đảo làm chủ nhiệm: đã ứng dụng mô hình số trị để dự báo được sóng và nước dâng do bão trước 24 đến 36 giờ cho vùng ven biển nhằm phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai và phục vụ phát triển kinh tế-xã hội; bổ sung được số liệu điều tra cơ bản và quy luật về các yếu tố hải văn tại các địa điểm nghiên cứu.

- Đề tài “Đánh giá sức tải môi trường vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững” do Viện Tài nguyên và Môi trường biển chủ trì thực hiện: đánh giá và dự báo tải lượng ô nhiễm từ các nguồn vào hệ đầm phá; xây dựng sơ đồ hiện trạng phát thải ô nhiễm và sơ đồ dự báo phát thải ô nhiễm năm 2020 khu vực hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai tỷ lệ 1:25.000 của 5 thông số: Nitơ tổng số (N-T), Photpho tổng số (P-T), TSS, COD, BOD; xác định cơ chế ô nhiễm nước hay khả năng tự làm sạch của vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai; tính toán cân bằng khối lượng các chất ô nhiễm trong hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai; mô phỏng lan truyền ô nhiễm của các chất trong hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai theo kịch bản hiện tại và kịch bản 2020; tính toán sức tải hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai và đề xuất giải pháp phát triển bền vững hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai. Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để giúp các nhà quản lý môi trường kiểm soát các nguồn ô nhiễm đưa vào khu vực đầm phá sao cho phù hợp với sức tải môi trường của nó, hoạch định chính sách về kinh tế đảm bảo sự phát triển bền vững.

   Lĩnh vực khoa học y dược

- Đề tài “Nghiên cứu dự báo nguy cơ tim mạch toàn dân và triển khai kỹ thuật chẩn đoán-điều trị tim mạch tại Thừa Thiên Huế” do GS, TS Huỳnh Văn Minh, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế và các cộng sự thực hiện: đã xác định được thực trạng và nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong 10 năm tới ở Thừa Thiên Huế, đồng thời triển khai các phương pháp chẩn đoán-điều trị cấp cứu bệnh tim mạch; đã thực hiện thành công hàng trăm ca đặt máy tạo nhịp tim, giảm được chi phí điều trị tim mạch tại bệnh viện. Ngoài ra, nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với lĩnh vực KH&CN, mở rộng ứng dụng ở các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên.

- Ngày 01/03/2011, Bệnh viện Trung ương Huế đã thực hiện độc lập ca ghép tim lấy từ người cho chết não đầu tiên bởi chính đội ngũ thầy thuốc của mình. Đây là kết quả của đề tài “Nghiên cứu triển khai ghép tim trên người lấy từ người cho chết não”. Ca ghép tim từ người cho chết não với êkip 100% là bác sĩ, chuyên gia của Bệnh viện Trung ương Huế đánh dấu một mốc son trong lịch sử y học của nước nhà, đưa Việt Nam chính thức có tên trên bản đồ ghép tim thế giới, mở ra niềm hy vọng mới cho các bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối bởi vì giải pháp này không những giúp cứu sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh mà còn giảm chi phí điều trị đáng kể.

- Đề tài “Nghiên cứu hiệu quả của bài thuốc Tiền liệt thanh giải trong điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệtdo  PGS, TS Hoàng Văn Tùng, Trường Đại học Y Dược làm chủ nhiệm: đã bào chế thuốc tiền liệt thanh giải dưới dạng cốm, đóng gói với khối lượng 60g/gói, khảo sát độc tính bán trường diễn trên thỏ thí nghiệm; áp dụng điều trị trên bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt, đánh giá kết quả điều trị bệnh cho thấy hiệu quả bước đầu, không có tác dụng phụ.

- Đề tài “Hoàn thiện quy trình kỹ thuật trong nội soi một số bệnh lý ống tiêu hóa trên ở bệnh viện Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế” do PGS, TS Trần Văn Huy, Trường Đại học Y Dược làm chủ nhiệm: đã xây dựng quy trình thắt tĩnh mạch trướng thực quản qua nội soi, quy trình cắt polyp đại trực tràng, quy trình cầm máu qua nội soi và quy trình mở thông dạ dày qua nội soi đạt kết quả khả quan.

   Một số kết quả khác từ thực hiện các đề tài KH&CN trong lĩnh vực y dược đã được chuyển giao cho các bệnh viện khu vực miền Trung-Tây Nguyên, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm tỷ lệ tử vong.

   Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

- Xuất bản, phát hành bộ Địa chí Thừa Thiên Huế-Phần Lịch sử, Tự nhiên, Dân cư và Hành chính và Phần Kinh tế. Đây là một công trình khoa học do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh tổ chức triển khai dưới dạng các đề tài khoa học cấp tỉnh trên cơ sở tuyển chọn các cơ quan khoa học để chủ trì, tập hợp các nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh biên soạn. Công trình khoa học thực hiện rất công phu, nghiêm túc được trình bày và hệ thống hóa một cách súc tích đặc điểm các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường; tái hiện tình trạng dân cư và tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính qua các thời kỳ lịch sử một cách trung thực, mang tính đặc trưng của một vùng đất; các hoạt động kinh tế thực tế của tỉnh Thừa Thiên Huế từ các hoạt động sản xuất vật chất bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, xây dựng đến các hoạt động dịch vụ bao gồm giao thông vận tải, thương mại, du lịch, bưu chính viễn thông và tài chính ngân hàng...

- Đề tài “Đánh giá nguồn lực và đề xuất giải pháp cải thiện sinh kế bền vững cho các hộ nghèo ở các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao” do Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng chủ trì thực hiện: đã nêu được cơ sở lý luận về mô hình sinh kế bền vững cho hộ nghèo, đánh giá được thực trạng sinh kế của các hộ nghèo tại các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao ở tỉnh Thừa Thiên Huế, đánh giá khả năng các nguồn lực và đề xuất mô hình sinh kế bền vững cho các hộ gia đình nghèo tại các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, đề xuất các giải pháp cải thiện sinh kế bền vững cho các hộ nghèo tại các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao.

- Kết quả của các đề tài như Nghiên cứu văn hóa dân gian và văn hóa Hán Nôm Thừa Thiên Huế; Tiếp cận văn hóa vùng Huế và miền Trung; Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn (1802-1945); những vấn đề khoa học đặt ra trong thực tiễn đổi mới của đất nước hiện nay… là những nguồn tư liệu quý giá, cơ sở khoa học phục vụ cho công tác tham khảo, nghiên cứu đời sống văn hóa-xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Các nhà khoa học thuộc Đại học Huế đã triển khai thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu các mô hình kinh tế và các biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa; các giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của cộng đồng các dân tộc ít người ở các tỉnh miền Trung, đặc biệt là tỉnh Thừa Thiên Huế; nghiên cứu kết hợp phát triển du lịch kinh tế với du lịch văn hóa, du lịch sinh thái; nghiên cứu ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa dân tộc các vùng miền...

  Thay lời kết

   “Đứng trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, trong những năm qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xác định phát triển KH&CN là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế-xã hội; là nền tảng và động lực để đổi mới mô hình tăng trưởng; tiêu chí nâng cao sức mạnh tổng hợp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, là một trong những khâu đột phá để phát triển nhanh và bền vững tỉnh nhà. Thời gian qua, kết quả của hoạt động nghiên cứu ứng dụng và triển khai trong lĩnh vực KH&CN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã phần nào đáp ứng được các yêu cầu trên, đó là kết quả của các đề tài, dự án thuộc các lĩnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp, khoa học y dược và khoa học xã hội...” (trích phát biểu của PGS, TS Trần Ngọc Nam, Giám đốc Sở KH&CN tại một hội thảo khoa học).

   Đức Thịnh

    gửi mail   in
Các tin khác
Xem tin theo ngày