Tìm kiếm tin tức

Chung nhan Tin Nhiem Mang

Xử lý vấn nạn bèo tây bằng chế phẩm sinh học Micromix-3 thành phân hữu cơ sinh học
Lượt đọc 128264Ngày cập nhật 03/05/2013

 

1. Đặt vấn đề

Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, bèo tây phát triển rất mạnh mẽ trên các ao hồ, sông nhỏ, phủ đầy mặt nước. Sự phát triển quá mức của bèo tây trên các ao hồ, sông nhỏ gây cản trở dòng chảy, sự lưu thông của nước và gây ảnh hưởng sinh hoạt và cuộc sống của người dân trong khu vực. Trong những năm qua các huyện, thị, thành và các xã phải tiêu tốn hàng trăm triệu đồng cho việc vớt bèo, thu dọn rơm rạ, khơi thông dòng chảy trước mùa mưa lũ, hạn chế việc sập cầu cống do bèo, rác vướng chân cầu. Tại các huyện/thị: Quảng Điền, Phong Điền, Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc,... ở một số nơi cây bèo tây phát triển và sinh sản nhanh làm nghẽn ao hồ, kênh rạch, sông. Ngoài ra, do mật độ bèo tây quá nhiều nên dẫn đến tình trạng cây bèo tây chết với số lượng lớn gây ô nhiễm môi trường nước, ảnh hưởng đến hệ động thực vật của sông, hồ... Mặt khác, một thực trạng cần phải báo động trong sản xuất nông nghiệp hiện nay là người dân hầu như chưa chú trọng sử dụng phân hữu cơ để chăm bón cho cây trồng mà chủ yếu sử dụng phân vô cơ. Vì vậy, đất canh tác ngày càng giảm độ tơi xốp, nghèo chất dinh dưỡng, làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến hiệu quả mang lại từ sản xuất không cao.

Đứng trước thực trạng đó, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế cho phép Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN thực hiện dự án “Hỗ trợ nhân rộng mô hình xử lý vấn nạn bèo tây bằng chế phẩm sinh học Micromix-3 thành phân hữu cơ sinh học tại 5 huyện/thị, tỉnh Thừa Thiên Huế”. Đây là việc làm cần thiết nhằm giải quyết vấn nạn bèo tây gây tắc nghẽn dòng chảy, làm ô nhiễm môi trường, cảnh quan du lịch và có được sản phẩm phân hữu cơ sinh học (HCSH) phục vụ cho sản xuất nông nghiệp một cách bền vững.

Mục tiêu chung của dự án là nhân rộng mô hình xử lý bèo tây bằng chế phẩm sinh học Micromix-3 để giải quyết vấn nạn bèo tây phát triển mạnh gây tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường tại vùng hạ lưu các sông, góp phần phát triển kinh tế-xã hội và cảnh quan du lịch, phát triển nông nghiệp bền vững tại 5 huyện/thị thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

2. Cơ sở khoa học của dự án

Bèo tây (Eichhornia crassipes Solms) còn được gọi là lục bình, lộc bình, hay bèo Nhật Bản là một loài thực vật thủy sinh, thân thảo, sống nổi theo dòng nước, thuộc về chi Eichhornia của họ bèo tây (Pontederiaceae). Cây bèo tây xuất xứ từ châu Nam Mỹ, du nhập Việt Nam khoảng năm 1905, do đó trong tiếng Việt mới có tên bèo tây. Còn tên bèo Nhật Bản vì có người cho là mang từ Nhật về. Bèo tây sinh sản rất nhanh và sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện ao hồ có nhiều chất hữu cơ và dinh dưỡng (hiện tượng phú dưỡng), ánh sáng nhiều, nhiệt độ tối ưu 300C, độ pH trong khoảng 5,5-9. Tốc độ phát triển bèo tây rất cao, một cây mẹ có thể đẻ cây con, tăng số gấp đôi mỗi 2 tuần, ở nơi giàu dinh dưỡng, trong hai tháng một cây bèo tây có thể đẻ ra một đàn con cháu tới 1.000 cá thể.

Thời gian qua, các con sông ở Thừa Thiên Huế như sông An Cựu, Đông Ba, Kẻ Vạn, Bạch Yến và Ngự Hà... trong tình trạng ô nhiễm nặng do rác và bèo phủ kín mặt sông. Sông An Cựu đoạn từ cầu Ga đến cầu Tam Tây bèo hoa dâu phủ kín mặt sông. Ở sông Bạch Yến, đoạn từ cầu An Hòa xuống đến cầu tạm, bèo tây phủ kín mặt sông, hạn chế luồng lạch đi lại của tàu thuyền. Sông Ngự Hà quanh kinh thành Huế, nối thông với sông Hương, được sử dụng như là hệ thống thoát nước cho vùng Đại Nội, nhưng đã bị tắt nghẽn dòng chảy do sự phát triển quá mức của bèo tây. Năm 2009, Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Kiểm định, Kiểm nghiệm (nay là Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ) cùng đơn vị chuyển giao công nghệ là Viện Công nghệ sinh học đã xây dựng và triển khai dự án cấp cơ sở: “Ứng dụng chế phẩm sinh học để sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ bèo tây, rơm rạ và các phụ phẩm nông nghiệp khác góp phần phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế”. Dự án đã xây dựng mô hình sản xuất phân HCSH từ nguyên liệu bèo tây, rơm rạ và các phụ phẩm nông nghiệp khác bằng chế phẩm sinh học tại thị xã Hương Thủy và thử nghiệm cho trồng hoa tại Thủy Vân, trồng lúa tại Thủy Thanh thành công, thu hút được nhiều sự quan tâm của đại đa số quần chúng.

Từ kết quả khoa học của dự án trên cộng với vùng nguyên liệu dồi dào (nguồn bèo tây ở các sông, hói, nguồn rơm rạ, rác thải hàng năm và các phế phẩm nông nghiệp khác) nên hoàn toàn có cơ sở để thực hiện dự án "Hỗ trợ nhân rộng mô hình xử lý vấn nạn bèo tây bằng chế phẩm sinh học Micromix-3 thành phân hữu cơ sinh học tại 5 huyện/thị, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm tránh lãng phí nguồn nguyên liệu này, đồng thời tiết kiệm được một khoản kinh phí khá lớn hàng năm từ ngân sách Nhà nước các cấp cho việc xử lý chúng để bảo vệ môi trường.

3. Kết quả đạt được của dự án

3.1 Kết quả xây dựng các mô hình trình diễn

Trình diễn mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học Micromix-3 để xử lý bèo tây, rơm rạ và các phụ phẩm nông nghiệp khác,... thành phân bón hữu cơ sinh học theo đúng quy trình kỹ thuật của Viện Công nghệ Sinh học tại 5 huyện/thị (2 mô hình/huyện, thị x 5 huyện/thị  = 10 mô hình trình diễn). Cụ thể là các xã/thị trấn: Hương Phong, Hương Vinh (thị xã Hương Trà), Phong Bình (huyện Phong Điền), Quảng Thành, Quảng Phú (huyện Quảng Điền), Phú Đa, Vinh Thái (huyện Phú Vang), Thủy Vân, Thủy Thanh (Thị xã Hương Thủy).

Mô hình trình diễn xử lý vận nạn bèo tây thành phân bón hữu cơ sinh học đã thực hiện thành công tại 9 xã/5 huyện thị, góp phần nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường thôn xóm, qua đó tạo một lượng phân hữu cơ để phục vụ trong quá trình sản xuất nông nghiệp của các hộ dân tham gia mô hình, nhất là thay đổi thói quen khi sử dụng phân vô cơ trong trồng trọt, góp phần bảo vệ và tăng độ phì nhiêu cho đất…

3.2 Kết quả thực hiện việc nhân rộng mô hình xử lý vấn nạn bèo tây

Để xử lý vấn nạn bèo tây trên các sông, hói ở địa bàn 5 huyện/thị thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, đơn vị chủ trì đã chủ động từ đầu trong việc phối hợp với tổ chức Hội Nông dân tỉnh Thừa Thiên Huế để huy động Hội viên tại các huyện và các xã vớt một phần lớn bèo tây có ở sông, hói trên địa phương mình, đồng thời đơn vị chủ trì sẽ tập huấn, cung cấp tài liệu kỹ thuật, đặc biệt là cung cấp chế phẩm Micromix-3 cho các hội viên Hội Nông dân để chủ động đưa về mỗi hộ và xử lý toàn bộ lượng bèo tây vớt được. Sản phẩm phân HCSH được sản xuất ra sẽ phục vụ cho việc trồng trọt của gia đình các hội viên.

Đơn vị chủ trì đã phối hợp với chính quyền địa phương cũng như Hội nông dân các xã có tham gia nhân rộng mô hình xử lý vấn nạn bèo tây đã trục vớt phần lớn lượng bèo tây có ở các sông, hói tại địa phương để tiến hành xử lý thành phân bón HCSH. Số lượng bèo tây được vớt lên xử lý là 1.522m3 và cho ra 253,7 tấn phân HCSH đảm bảo yêu cầu.

Qua quá trình triển khai mô hình xử lý bèo tây thành phân bón HCSH của 250 hộ dân trong vùng dự án đã nâng cao được nhận thức về tầm quan trọng của việc xử lý bèo tây thành phân HCSH ở các hộ dân tham gia mô hình, giúp các hộ dân có một lượng phân bón HCSH đạt chất lượng, góp phần cải thiện môi trường đất cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm của cây trồng, từ đó lan truyền và nhân rộng ra trong toàn xã, huyện lợi ích của mô hình thực hiện.

4. Đánh giá hiệu quả thực hiện dự án:

4.1 Hiệu quả thực hiện dự án so với thuyết minh dự án

- Dự án đã triển khai từ ngày 01/5/2012 đến ngày 20/01/2013, các hạng mục trong đề cương dự án đã được triển khai thực hiện theo đúng yêu cầu đề ra. Hầu hết các sản phẩm dự án đều đạt yêu cầu so với thuyết minh dự án. Quản lý và triển khai dự án, đơn vị chủ trì đã chủ động từ đầu nên không lúng túng, bị động trong thực hiện dự án, đã thành lập Ban quản lý dự án, lập kế hoạch thích hợp để triển khai các nội dung của dự án một cách có khoa học, hiệu quả, đã phối hợp chặt chẽ và tốt với các đơn vị phối hợp, cán bộ kỹ thuật, cán bộ cơ sở và người dân vùng dự án nên dự án được triển khai một cách bài bản, khoa học, đúng nội dung, tiến độ. Về tuyên truyền, quảng bá, đã in hơn 300 bộ tài liệu tập huấn và 1000 tờ rơi phổ biến kỹ thuật xử lý bèo tây, rơm rạ,... thành phân bón HCSH, đồng thời đã thực hiện 01 phóng sự chuyên đề xử lý vấn nạn bèo tây và phát trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Thừa Thiên Huế. Về trình diễn mô hình và triển khai xử lý vấn nạn bèo tây tại 5 huyện/thị đã thực hiện các hạng mục đúng kế hoạch đề ra, các hộ dân đã được hỗ trợ, cung cấp các nguyên vật liệu theo đúng yêu cầu của thuyết minh dự án. Qua kiểm tra theo dõi cho thấy các hộ thực hiện dự án đã thực hiện đúng theo những cam kết từ ban đầu. Các đống ủ đảm bảo đạt khối lượng, quá trình xới đảo kết hợp bổ sung chế phẩm Micromic-3 thực hiện tốt, nhiệt độ đống ủ đạt yêu cầu, độ hoai mục và phân huỷ của đống ủ tốt. Từ đó đã có kết quả của quá trình nhân rộng mô hình (260 hộ dân/5 huyện, thị, trong đó 250 hộ thuộc mô hình phân tán và 10 hộ thuộc mô hình trình diễn). Ngoài ra, thông qua mô hình các hộ dân trong và ngoài vùng dự án, có 28 hộ dân đã tiếp cận được quy trình kỹ thuật cũng như lợi ích mà nó đem lại và đã liên hệ đơn vị chủ trì để mua chế phẩm về xử lý các phụ phế phẩm, bèo tây, rơm rạ,… tạo lượng phân bón HCSH tại nhà và sử dụng cho sản xuất nông nghiệp của gia đình. Về sử dụng phân HCSH trong quá trình sản xuất nông nghiệp của người dân tham gia thực hiện dự án, hầu hết người dân sử dụng phân HCSH trong quá trình trồng rau màu là chính, một số ít dùng trong trồng hoa (xã Thủy Vân và Thủy Thanh) và trồng cây cảnh, lúa (Hương Vinh, Phú Đa và Vinh Thái). Mặt khác, theo phản ảnh của người dân, sau khi hoa màu được bón bằng phân HCSH của mô hình thì có tốc độ tăng trưởng tốt, ít sâu bệnh, sản phẩm có chất lượng và cho hiệu quả cao về sản lượng. Riêng về trồng hoa, thì cây sinh trưởng tốt, cho ra hoa đẹp (màu hoa đẹp, tươi thắm, bộ lá tốt, sẫm màu và nhiều hơn), không thấy tình trạng sâu hại cây.

4.2 Hiệu quả kinh tế của mô hình

Phân HCSH giá trên thị trường từ 1.500đ - 1.900đ/kg, lấy giá trị thấp nhất là 1.500đ/kg thì suy ra lợi nhuận khi sản xuất 1kg phân HCSH của dự án là 860đ/kg. Như vậy, mỗi tấn phân HCSH, người nông dân tiết kiệm được 860.000 đồng. Tổng sản phẩm của dự án là:  10+250=260 tấn phân HCSH.

4.3 Hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường của mô hình

Về mặt xã hội: Người dân tận dụng được các nguyên liệu được xem như là không có giá trị như: bèo tây, rơm rạ, rác thải sinh hoạt,... và các phụ phẩm nông nghiệp khác  để tự sản xuất phân bón hữu cơ hoặc HCSH sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, tiết kiệm chi phí sản xuất khi mua phân bón hóa học. Sử dụng phân HCSH sẽ thay thế một phần hoặc toàn bộ phân hóa học, giảm được chi phí sản xuất, góp phần cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng và đảm bảo an toàn thực phẩm, làm giảm các mầm bệnh và côn trùng có hại đến cây trồng, tăng độ phì nhiêu cho đất. Giúp cho người dân hiểu biết thêm về phân hữu cơ, phân vi sinh, phân HCSH và công dụng của chúng. Tiết kiệm cho ngân sách nhà nước của tỉnh, huyện, thị xã hàng trăm triệu đồng mỗi năm trong việc xử lý bèo tây, rơm rạ,... làm tắt nghẽn dòng chảy, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến cảnh quan du lịch trên sông Hương và vùng hạ lưu.

Về môi trường: Góp phần khơi thông dòng chảy sông ngòi hạn chế ách tắc giao thông đường thủy trong mùa mưa bão, lũ lụt. Vào mùa nắng, mật độ bèo tây quá nhiều sẽ dẫn đến tình trạng cây bèo tây bị chết với số lượng lớn gây ô nhiễm môi trường nước, giảm lượng oxy hòa tan, làm thối nước do nhiều chất hữu cơ. Do vậy, xử lý vấn nạn bèo tây sẽ góp phần giảm ô nhiễm môi trường nước. Ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý vấn nạn bèo tây tại từng địa phương, sẽ cải thiện đáng kể điều kiện vệ sinh môi trường, cảnh quan du lịch trên địa bàn các huyện/thị/thành thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

5. Kết luận

Dự án đã được thực hiện thành công, các mô hình trình diễn và nhân rộng mô hình xử lý vấn nạn bèo tây thành phân bón HCSH tại các 5 huyện/thị đã thực hiện đúng quy trình kỹ thuật và đảm bảo theo yêu cầu về mục tiêu, nội dung của dự án được duyệt. Đảm bảo đầy đủ về số lượng và chất lượng sản phẩm của dự án. Thông qua đào tạo, tập huấn kỹ thuật, tổ chức các hội nghị đầu bờ cũng như tuyên truyền, quảng bá trên các báo, đài về quy trình kỹ thuật và kết quả thực hiện dự án đã giúp người dân trong và ngoài vùng dự án nắm bắt được kỹ thuật và tính hữu ích của việc xử lý bèo tây, rơm rạ... thành phân bón HCSH, đặc biệt là xử lý vấn nạn bèo tây, góp phần bảo vệ môi trường, cảnh quan thôn xóm. Đơn vị chủ trì cùng cán bộ kỹ thuật đã phối hợp tốt với cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, Hội Nông dân các cấp cùng cán bộ cơ sở và người dân trong việc thực hiện dự án nên dự án được triển khai thuận lợi theo đúng yêu cầu, thu hút được nhiều sự quan tâm của chính quyền địa phương và người dân vùng dự án.

Phân bón HCSH thu được từ việc xử lý vấn nạn bèo tây trên địa bàn 5 huyện/thị bằng chế phẩm sinh học Micromix-3 đạt yêu cầu về chất lượng theo đánh giá của người dân, đã góp phần phục vụ cho quá trình sản xuất nông nghiệp của các nông hộ. Kết quả bón phân cho các cây trồng tại các nông hộ, đặc biệt là hoa và rau màu đã cho năng suất cao, chất lượng tốt, đã nâng cao khả năng nhân rộng mô hình trên địa bàn tỉnh. Thời gian thực hiện xử lý vấn nạn bèo tây trong vùng dự án vào khoảng tháng 5-8 trong năm (theo dương lịch) là thuận lợi nhất.

6. Kiến nghị

Với kết quả thực hiện của dự án, đơn vị chủ trì đã đề nghị Sở Khoa học và Công nghệ, chính quyền địa phương, các đoàn thể cũng như Hội Nông dân các cấp quan tâm thúc đẩy việc nhân rộng mô hình bằng các hình thức tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật. Bên cạnh đó, có chính sách hỗ trợ cho người dân về chế phẩm sinh học Micromix-3 cho các huyện/thị để xử lý được vấn nạn bèo tây trên toàn địa bàn tỉnh, để nhân rộng mô hình trong toàn huyện, toàn tỉnh.

ThS Hoàng Nhật Linh

(Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN)

 

    gửi mail   in
Các tin khác
Xem tin theo ngày