Tìm kiếm tin tức

Chung nhan Tin Nhiem Mang

Nhìn từ một dự án nhân rộng mô hình nuôi tôm hạ triều bằng chế phẩm sinh học
Lượt đọc 50419Ngày cập nhật 15/03/2010

Thừa Thiên Huế có hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai lớn nhất Đông Nam Á, nằm trải dài trên 70km thuộc địa bàn của 5 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Lộc, Phú Vang) với diện tích mặt nước khoảng 22.600ha, có nguồn lợi thủy sản dồi dào và đa dạng sinh học cao. Hệ đầm phá là nơi giao hòa của các hệ sinh thái nước lợ và nước mặn, rất phù hợp với nuôi trồng thủy sản. Vì vậy hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS) diễn ra rất rầm rộ, góp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, nghề NTTS đã đóng góp một phần rất lớn vào kim ngạch của tỉnh nhà, giúp xóa đói, giảm nghèo.

Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô, diện tích NTTS, kéo theo việc lạm dụng thức ăn để nâng cao năng suất cùng với việc nuôi trồng thiếu quy hoạch hay phát triển nhiều mô hình nuôi thiếu cân đối, không chú ý đến vùng đệm, không thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, đã làm cho môi trường đầm phá, đặc biệt vùng NTTS bán thâm canh và quảng canh cải tiến bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, tình hình dịch bệnh xảy ra trên diện rộng và ngày càng khó dập dịch. Điều này đặt ra nhiều khó khăn cho công tác phát triển NTTS hiện nay và về sau.

Hiện tượng ao nuôi bị ô nhiễm nhiều dẫn đến tình trạng thất thu vào cuối vụ, làm cho đời sống người nuôi tôm gặp nhiều khó khăn. Nhiều hộ nông dân vùng ven đầm phá Tam Giang-Cầu Hai đã không còn tin tưởng vào nghề nuôi tôm thường mang lại nhiều lợi nhuận cho gia đình như trước đây.
Để xử lý ô nhiễm môi trường nuôi tôm người ta đã sử dụng nhiều loại chế phẩm sinh học có hiệu quả xử lý trong thời gian dài và phù hợp với điều kiện khí hậu thủy văn, con giống, giá thành phải phù hợp... để đảm bảo môi trường nước nuôi tôm, góp phần tăng năng suất nuôi tôm và duy trì môi trường, sinh thái sạch, bền vững. Nhưng người dân nuôi tôm ở các xã ven đầm phá Tam Giang-Cầu Hai đang gặp nhiều trở ngại, khó khăn trong việc sử dụng các loại chế phẩm sinh học để xử lý ô nhiễm ao nuôi như chưa tiếp cận thông tin, chưa biết địa điểm cung cấp, chưa nắm được quy trình sử dụng, tâm lý e ngại về hiệu quả kinh tế, tâm lý lo sợ rủi ro trong sử dụng...
Với các lý do nêu trên, nhằm góp phần giảm bớt rủi ro, dịch bệnh do ô nhiễm ao nuôi tôm gây ra, đem lại lợi ích thiết thực cho người nông dân nuôi tôm vùng ven đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế, Năm 2009, Sở Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ cho Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Kiểm định, Kiểm nghiệm tiến hành xây dựng và triển khai dự án:“Hỗ trợ nhân rộng mô hình ứng dụng các chế phẩm sinh học ở các ao nuôi tôm hạ triều tại vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Dự án này là cơ sở cho việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học đã thành công trên địa bàn, đó là đề tài KHCN cấp tỉnh về “Khảo nghiệm một số chế phẩm sinh học trong việc xử lý các ao nuôi tôm bị ô nhiễm tại Thừa Thiên Huế” năm 2007 của PGS.TS. Lại Thúy Hiền, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và đề tài “Sử dụng chế phẩm EM và Bokashi trầu trong điều trị bệnh vi khuẩn cho động vật thủy sản” của Ths Nguyễn Ngọc Phước, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông lâm Huế.
Kết quả nghiên cứu, thử nghiệm của các đề tài đạt được rất khả quan, các ao nuôi sử dụng chế phẩm sinh học có màu nước ổn định, tỷ lệ tôm sống cao, tăng trưởng tốt, đặc biệt số lượng Vibrio (vi khuẩn gây bệnh cho tôm) giảm so với ao không sử dụng chế phẩm.
Qua thực tế nghiên cứu của 2 đề tài này, cùng với những đánh giá kết luận của hội đồng khoa học tỉnh và Trường Đại học Nông lâm, đã có được đầy đủ căn cứ khoa học để tiến hành nhân rộng mô hình ứng dụng các chế phẩm sinh học xử lý các ao nuôi tôm bị ô nhiễm, đặc biệt là các ao nuôi tôm hạ triều vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Công nghệ sử dụng chế phẩm sinh học cho nuôi tôm phù hợp với xu thế chung, đem lại nhiều tác dụng cho hồ nuôi, xử lý môi trường nuôi, phòng và chữa bệnh cho tôm nuôi, kích thích sự sinh trưởng cho vật nuôi, sau khi sử dụng công nghệ chế phẩm vi sinh sẽ thu được những kết quả như tỷ lệ tôm sống cao, tăng trưởng tốt, có màu nước ổn định trong suốt quá trình nuôi, khả năng hạn chế số lượng vi khuẩn gây bệnh Vibrio giảm từ 10 đến 100 lần so với trường hợp không dùng chế phẩm.
Chế phẩm sinh học của Viện Công nghệ Sinh học và của Trường Đại học Nông lâm đã thực nghiệm thành công ở huyện Quảng Điền nên có thể ứng dụng cho các địa phương khác trên địa bàn đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Dự án được thực hiện với mục tiêu tổng quát là nhân rộng mô hình ứng dụng các chế phẩm sinh học ở các ao nuôi tôm vùng hạ triều nhằm cải tiến phương thức nuôi trồng thủy sản tại vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai Thừa Thiên Huế, góp phần hạn chế ô nhiễm ao nuôi tôm và thu được hiệu quả kinh tế. Mục tiêu cụ thể của dự án là phổ biến quy trình kỹ thuật xử lý các ao nuôi tôm vùng hạ triều bằng chế phẩm sinh học của Viện Công nghệ Sinh học và của Trường Đại học Nông lâm cho các hộ dân nuôi tôm tại vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai bằng các lớp tập huấn kỹ thuật (10 lớp). Trình diễn mô hình nuôi tôm bán thâm canh có kiểm dịch con giống qua máy PCR và sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý ô nhiễm cho các ao nuôi tôm theo đúng quy trình kỹ thuật của Viện Công nghệ Sinh học và Khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông lâm Huế tại thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền; xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang và xã Hương Phong, huyện Hương Trà với tổng quy mô 3ha để người dân tham quan học tập. Qua đó giúp người nuôi trồng thủy sản biết được nguồn gốc, nơi sản xuất, nơi cung cấp các loại chế phẩm sinh học để có thể mua khi cần sử dụng.
Dự án được thực hiện từ tháng 12/2009 đến tháng 6/2010. Dự án đã tổ chức 10 lớp tập huấn kỹ thuật nuôi tôm bằng công nghệ sinh học cho hơn 500 người dân vùng dự án. Hiện nay, đã triển khai 10 lớp tập huấn tại 14 xã thuộc 4 huyện (4 xã ở huyện Phú Lộc, 6 xã ở Phú Vang, 3 xã ở Quảng Điền, 2 HTX của xã Hương Phong, Hương Trà). Mỗi lớp 50 người, do đó 10 lớp là 500 người, trong đó có 6 kỹ thuật viên cơ sở. Thời gian tập huấn từ 2/3-11/3 trước khi bước vào thời vụ thả tôm là 16/3/2010. Ngoài ra còn tổ chức 3 mô hình trình diễn tại 3 huyện (1ha/huyện), 3 hội nghị đầu bờ tại 3 huyện có mô hình trình diễn (1 hội nghị/huyện), báo cáo tổng kết nghiệm thu của dự án và đĩa CD và các tài liệu về chế phẩm sinh học và chế phẩm E.M, Bokashi trầu.
Sau khi dự án kết thúc, các kinh nghiệm về sử dụng chế phẩm sinh học, quy trình kỹ thuật, phương thức tổ chức tập huấn nhân rộng sẽ được chuyển giao cho các cơ quan, đơn vị có liên quan đến khoa học và công nghệ, nông nghiệp và phát triển nông thôn trong tỉnh (như phòng Công Thương, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trạm Khuyến Nông-Lâm-Ngư...), các HTX nông nghiệp, các doanh nghiệp... để tiến hành nuôi tôm có sử dụng chế phẩm sinh học trên diện tích nuôi tôm vùng hạ triều toàn tỉnh.
Nuôi tôm theo phương pháp sinh học hoàn toàn yên tâm về sự ô nhiễm môi trường nuôi và dư lượng kháng sinh trong tôm; giảm thiểu được dịch bệnh, tạo được sự cân bằng sinh thái,… đem lại lợi ích kinh tế cho từng hộ gia đình. Trên cơ sở thành công của từng hộ sẽ góp phần làm cho toàn vùng nuôi trồng thủy sản trên đầm phá Tam Giang - Cầu Hai ít có dịch bệnh, mang lại lợi ích to lớn cho toàn cộng đồng xã hội.
Dự án “Hỗ trợ nhân rộng mô hình ứng dụng các chế phẩm sinh học ở các ao nuôi tôm hạ triều tại vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế”là dự án có ý nghĩa thực tiễn cao, ứng dụng chế phẩm sinh học đáp ứng được yêu cầu xử lý ô nhiễm ao nuôi, tôm nuôi không còn dư lượng kháng sinh, giảm được những rủi ro trong nuôi tôm, góp phần làm trong sạch môi trường nuôi tôm ven đầm phá trên địa bàn tỉnh nhà, điều mà mọi người dân nuôi tôm vùng đầm phá đang quan tâm.
Việc tập huấn giới thiệu quy trình kỹ thuật để phát triển nghề nuôi tôm ven đầm phá bằng công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế là rất phù hợp và cần thiết góp phần cải tiến phương thức canh tác, nhân rộng mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ đã nghiệm thu có hiệu quả nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho bà con nông dân nuôi tôm vùng đầm phá, tăng chất lượng cuộc sống, tăng thu nhập, bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội chung của tỉnh. Thực tế, qua các lớp tập huấn, người dân rất phấn khởi, nhiệt tình tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật và sẵn sàng ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật đó trong thực tiễn sản xuất.
Việc tập huấn kỹ thuật nuôi tôm bằng các chế phẩm sinh học đã nghiên cứu, thử nghiệm thành công trên địa bàn ngay từ đầu năm âm lịch để kịp mùa vụ thả tôm năm 2010 của Trung tâm Chuyển giao Công nghệ và Kiểm định, Kiểm nghiệm là một tín hiệu vui của một dự án nhân rộng mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ.
Ths Trần Tuấn
    gửi mail   in
Các tin khác
Xem tin theo ngày