Tìm kiếm tin tức

Chung nhan Tin Nhiem Mang

Một số kết quả nổi bật trong ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2010-2012
Lượt đọc 80845Ngày cập nhật 06/07/2012

 

Với định hướng phát triển cho Thừa Thiên Huế là “Xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới, là trung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch; khoa học và công nghệ(KH&CN), y tế chuyên sâu và giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao. Phấn đấu đến năm 2020, Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, KH&CN, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực các nước Đông Nam châu Á” (Kết luận số 48-KL/TW ngày 25/5/2009).

Với tiềm lực KH&CN đứng hàng thứ ba trong toàn quốc (chỉ sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), tỉnh Thừa Thiên Huế đã tích cực triển khai các hoạt động KH&CN theo tinh thần của Kết luận 48 của Bộ Chính trị nên thời gian qua đã đạt những kết quả rất đáng khích lệ. Đồng thời đã đạt được một số kết quả nổi bật về ứng dụng các tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn của tỉnh giai đoạn 2010-2012 như sau:

A. Kết quả hoạt động ứng dụng tiến bộ KH&CN

1. Bệnh viện Trung ương Huế thực hiện thành công ghép tim trên người

Những thành tựu quan trọng về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh thời gian qua là thành quả quan trọng hướng đến mục tiêu xây dựng Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung và cả nước. Bệnh viện Trung ương Huế là hạt nhân trung tâm y tế chuyên sâu từng bước được đầu tư hoàn thiện với những trang thiết bị hiện đại, đã triển khai nhiều kỹ thuật chẩn đoán và điều trị chuyên sâu, tiên tiến, nhất là trong các lĩnh vực tim mạch, ghép tạng, điều trị ung thư, chẩn đoán hình ảnh, nội soi can thiệp, ngoại sản, hồi sức cấp cứu... Đặc biệt, thực hiện thành công ca ghép tim đầu tiên do thầy thuốc của bệnh viện thực hiện đã khẳng định, nâng cao vị thế và uy tín bệnh viện trong nước và quốc tế.

Các bác sĩ, chuyên gia của Bệnh viện Trung ương Huế đã ghép tim thành công cho một bệnh nhân 26 tuổi ở thành phố Huế từ tim của một người cho chết não. Ca phẫu thuật được tiến hành từ 22h ngày 1/3/2011 và hoàn tất sau 5 giờ phẫu thuật. Êkip trực tiếp tham gia ghép tim gồm các bác sĩ thuộc Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Huế; đây là ca ghép tim trên người thứ hai tại Việt Nam. Trước đó, ngày 24/6/2010, ca ghép tim thành công đầu tiên được tiến hành tại Bệnh viện Quân Y 103 (Hà Nội) có sự phối hợp với đội ngũ giáo sư, bác sĩ của Bệnh viện Trấn Hưng (Đài Loan, Trung Quốc).

Ca ghép tim từ người cho chết não với êkip 100% là bác sĩ, chuyên gia của Bệnh viện Trung ương Huế đánh dấu một mốc son trong lịch sử y học của nước nhà. GS,TS Bùi Đức Phú cùng êkip Hội đồng ghép tim đã được vinh danh là “Nhân tài Đất Việt năm 2011”.

2. Chuyển giao công nghệ chế tạo và ứng dụng vật liệu có cấu trúc nano

Các nhà khoa học tại Trường Đại học Khoa học Huế đã đưa ra được quy trình công nghệ và thiết bị đồng bộ để có thể sản xuất hàng nghìn lít sơn nano mỗi ngày. Sơn nano TiO2/Ag là loại sơn có những đặc tính như: diệt khuẩn, tự làm sạch, khử mùi, độ bền cao... Do đặc tính trên, công nghệ chế tạo sơn nano luôn là bí quyết của các nhà sản xuất sơn trên thế giới. Để sản xuất được sơn nano với số lượng lớn là rất khó, bởi nguyên liệu đầu vào thường đắt và khó kiếm. Để khắc phục hạn chế trên, nhóm nghiên cứu của TS Trương Văn Chương đã chọn các nguyên liệu đầu vào dạng công nghiệp rẻ tiền, dễ kiếm. Thay vì mỗi ngày sản xuất được vài lít đến vài chục lít, thì nhóm nghiên cứu có thể cho ra đời hàng nghìn lít sơn nano TiO2/Ag mỗi ngày; giá thành sản phẩm do nhóm tạo ra rất thấp, chỉ từ 40.000-100.000 đồng/m2, bao gồm tất cả các khâu từ nguyên vật liệu cho tới thi công (trong khi đó, sản phẩm tương đương của nước ngoài có giá lên tới  1.000-2.000 USD).

Tháng 3/2011, nhóm nghiên cứu công nghệ nano do TS Trương Văn Chương làm trưởng nhóm (thuộc Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế) đã chuyển giao công nghệ sản xuất Ag-nano cho Công ty Công nghệ nano Huế. Trước đó, tháng 2/2011, nhóm nghiên cứu đã chuyển giao công nghệ cho Công ty    VietDelta (Hà Nội) để sản xuất TiO2-nano và Ag-nano.

Sau nhiều năm nghiên cứu, nhóm thực hiện  đã thành công trong việc chế tạo một số vật liệu có cấu trúc nano, bao gồm titan đioxit (TiO2) nano, vật liệu PZT có cấu trúc nano, bạc (Ag) nano. Các công trình nghiên cứu về các vật liệu nano nói trên đã được công bố trên một số tạp chí khoa học chuyên ngành và báo cáo tại các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế, tham dự và trưng bày tại Chợ Công nghệ và Thiết bị Quảng Nam năm 2011.

Việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu cho các doanh nghiệp KH&CN trong tỉnh và các địa phương khác trong nước không chỉ khẳng định ý nghĩa thực tiễn của các công trình nghiên cứu mà còn cụ thể hóa việc “thương mại hóa” các sản phẩm KH&CN, một xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhập quốc tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

3. Trong lĩnh vực nông nghiệp

- Dự án “Hỗ trợ phát triển sản xuất rau an toàn” do Trường Đại học Nông Lâm Huế chủ trì thực hiện đã được Hội đồng KH&CN tỉnh tổ chức nghiệm thu. Dự án đã triển khai xây dựng 3 mô hình sản xuất rau an toàn trên tổng diện tích 2,42ha tại phường Hương An, thị xã Hương Trà và phường Hương Long, thành phố Huế; hỗ trợ quy trình sơ chế đóng gói và tổ chức 2 điểm tiêu thụ (mua-bán) sản phẩm rau an toàn; hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ công nhận vùng đủ điều kiện sản xuất rau an toàn cho các địa phương tham gia dự án.

Kết quả dự án không những trực tiếp làm tăng diện tích đủ điều kiện sản xuất rau an toàn của tỉnh mà còn là mô hình điểm để các địa phương học tập kinh nghiệm trong việc nhân rộng mô hình sản xuất rau an toàn, góp phần hoàn thành chiến lược phát triển sản xuất rau an toàn của UBND tỉnh đề ra. Với khả năng nhân rộng mô hình, chiến lược phát triển sản xuất rau an toàn sẽ góp phần không nhỏ cho việc thực hiện mục tiêu của chương trình tam nông và xây dựng nông thôn mới của tỉnh nhà.

- Từ kết quả của dự ánHỗ trợ nhân rộng mô hình nuôi cá vược vùng nước lợ tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổng kết và đánh giá được các mô hình nuôi cá vược hiện có, triển khai mô hình nuôi cá vược thương phẩm có cải tiến theo hướng đạt hiệu quả kinh tế, lợi cho môi trường để nhân rộng ở Thừa Thiên Huế. Việc nhân rộng mô hình nuôi cá vược bằng thức ăn tươi và thức ăn tươi kết hợp với thức ăn công nghiệp góp phần tăng tính chủ động trong quá trình nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao và hạn chế ô nhiễm môi trường.

- Với mục tiêu áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nấm có giá trị kinh tế, từ năm 2010 được sự hỗ trợ của Sở KH&CN tỉnh Thừa Thiên Huế từ nguồn sự nghiệp khoa học tỉnh và trung ương, hai đơn vị Hợp tác xã Nông nghiệp Phú Lương I và Trạm sản xuất nấm Phú Đa (thuộc Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN tỉnh Thừa Thiên Huế) đã tiếp nhận và làm chủ công nghệ sản xuất các loại nấm như: nấm sò, nấm mộc nhĩ, nấm rơm và nấm dược liệu xích chi; công nghệ xử lý phế thải trồng nấm thành phân hữu cơ. Hai đơn vị nói trên đã chủ động thực hiện từ khâu nhân giống cấp I, cấp II, cấp III và sản xuất túi nuôi trồng nấm, đã xây dựng mô hình sản xuất tập trung và phân tán đem lại giá trị kinh tế, tạo nguồn thu nhập ổn định cho nông dân và góp phần bảo vệ môi trường, đồng thời giải quyết việc làm khi nông nhàn. Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nấm đang được nhân rộng ở địa phương.

- Trong việc sơ chế bảo quản sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật sử dụng công nghệ thiết bị sấy bằng bơm nhiệt trong sấy lạnh cho sản phẩm kiệu La Chữ và nấm ở Phú Lương. Khi sấy các loại thực phẩm trên hệ thống thiết bị sấy bằng bơm nhiệt trong sấy lạnh tiết kiệm năng lượng, sản phẩm sau sấy đẹp, vẫn nguyên màu sắc ban đầu, màu sắc tươi, thời gian sấy rút ngắn đáng kể. Sản phẩm nấm Phú Lương và kiệu La Chữ đã tăng rất đáng kể phần giá trị gia tăng.

4. Trong lĩnh vực tự nhiên và môi trường

Địa phương đã triển khai một số dự án xây dựng mô hình cấp nước sạch cho cộng đồng, xử lý nước thải khách sạn, lò mổ gia súc, thu gom rác thải, các mô hình trên đã phát huy hiệu quả. Đã ứng dụng các công nghệ cao như hệ thống thông tin địa lý (GIS), công nghệ xử lý ảnh viễn thám, các mô hình toán vào xây dựng các bản đồ quy hoạch, vào công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, đất đai, quản lý khai thác thủy sản...

Nghiên cứu các giải pháp công nghệ xử lý chất thải, bảo vệ môi trường. Quy hoạch, xây dựng các bãi rác hợp vệ sinh. Ứng dụng các công nghệ sạch, thử nghiệm các mô hình bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng.

Ứng dụng công nghệ viễn thám, thông tin địa lý và hệ thống định vị toàn cầu (công nghệ GEOMATIC) để nghiên cứu, quan trắc và dự báo tai biến sự cố môi trường, đặc biệt là sự biến động lấp, mở cửa biển; bồi lắng, sạt lở bờ biển, bờ sông.

Ứng dụng công nghệ sinh học, các mô hình tiên tiến để xử lý môi trường nước, xử lý chất thải rắn, xử lý nước thải sản xuất công nghiệp, sinh hoạt ở đô thị, phục vụ cho nuôi trồng thủy sản, bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên.

Trong tháng 3/2011, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quyết định tiếp tục chọn Công ty TNHH NNMTV Xây dựng và Cấp thoát nước Thừa Thiên Huế làm mô hình điểm cho giai đoạn II nhằm triển khai áp dụng Công cụ đánh giá chất lượng (Quality Assurance Tool) thực hiện Kế hoạch cấp nước an toàn của WHO. Công ty TNHH NNMTV Xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên Huế là một trong ba mô hình điểm thực hiện thành công Kế hoạch cấp nước an toàn giai đoạn I ở Việt Nam. Theo hướng dẫn của WHO, “Kế hoạch cấp nước an toàn” là một quy trình gồm 11 bước, giúp cho các công ty cấp nước có kế hoạch và biện pháp để kiểm soát, phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục tất cả các mối nguy và sự cố xảy ra trong suốt quá trình sản xuất và cung cấp nước, nhằm đảm bảo luôn luôn đạt được mục tiêu cấp nước an toàn. Công ty TNHH NNMTV Xây dựng và Cấp thoát nước Thừa Thiên Huế đã xây dựng phòng thử nghiệm được công nhận đạt chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2005, thực hiện hiệu quả Kế hoạch cấp nước an toàn, đã cấp nước an toàn trên toàn bộ hệ thống cấp nước (hiện cung cấp nước cho 65,79% người dân toàn tỉnh, 99,03% người dân tại thành phố Huế), cam kết duy trì bền vững lâu dài, với mục đích cao nhất là góp phần giảm thiểu các dịch bệnh liên quan đến nước, nâng cao sức khỏe cộng đồng và chất lượng cuộc sống của người dân Thừa Thiên Huế.

5. Trong lĩnh vực công nghệ sinh học

Ở lĩnh vực công nghệ sinh học, trong thời gian qua đã nghiên cứu thành công một số vấn đề khoa học cơ bản phục vụ sản xuất, đời sống và công tác đào tạo. Việc ứng dụng công nghệ gen và kỹ thuật nuôi cấy mô vào cải thiện giống cây trồng; ứng dụng sinh học phân tử để chẩn đoán một số bệnh thường gặp ở người và vật nuôi, nghiên cứu sản xuất enzym tái tổ hợp dùng trong chế biến thực phẩm, sản xuất các hoạt chất sinh học dùng trong thực phẩm…đã có một số thành công nhất định.

+ Nuôi cấy mô thực vật: đã nhân giống in vitro nhiều loài cây hoa, cây dược liệu và cây gỗ có giá trị như hoa phong lan, hoa mắt mèo, hoa đồng tiền, hà thủ ô đỏ, măng tây, sưa, hông, nghệ đen, cà gai leo...

+ Sản xuất hợp chất thứ cấp từ nuôi cấy tế bào thực vật trong bioreactor: nghiên cứu sản xuất cucurmin từ nghệ đen, asiaticoside từ rau má, glycoalkaloid từ cà gai leo ở quy mô phòng thí nghiệm.

+ Công nghệ gen: đã nghiên cứu tạo dòng thành công gen protease từ Bacillus subtilis, chitinase từ Trichoderma asperellum, serin protease từ giun quế, pectinase từ Aspergillus niger, gen chịu hạn rabLH từ lúa,… nhiều gen đã được đăng ký trên GenBank.

+ Chuyển gen vào thực vật: đã chuyển thành công gen LTB (độc tố đường ruột của vi khuẩn E. coli) vào cà chua, rau má, càng cua, xà lách xoong; chuyển gen CTB (độc tố gây bệnh tả của vi khuẩn Vibrio cholerae) vào cà chua, mía…tạo cơ sở cho việc sản xuất vaccine thực vật sau này.

+ Sản xuất enzyme tái tổ hợp: đã sản xuất thành công protease trung tính từ Bacillus subtilis trong E. coli ở quy mô pilot (40 L).

+ Ứng dụng công nghệ sinh học trong việc chẩn đoán và theo dõi bệnh: xét nghiệm phân tích nhiễm sắc thể, xét nghiệm về gene người (gene SRY, FMR1, các vùng AFZ...), xét nghiệm ADN của các tác nhân vi sinh vật gây bệnh (virus viêm gan B, virus viêm gan C, HPV, vi khuẩn lao...), xét nghiệm các marker về bệnh lý tự miễn, kháng nguyên HLA, các chỉ số hóa sinh, chỉ số huyết học, xét nghiệm tế bào học và mô bệnh học…

 Từ kết quả đề tài Nghiên cứu sản xuất enzyme protease tái tổ hợp trong hệ thống lên men quy mô pilot và thử nghiệm ứng dụng sản xuất nước chấm” do Viện Tài nguyên Môi trường và Công nghệ Sinh học, Đại học Huế chủ trì thực hiện đã nghiên cứu và sản xuất được chế phẩm  enzyme protease tái tổ hợp ở quy mô pilot, ứng dụng thành công enzyme protease tái tổ hợp để sản xuất nước chấm. Nhóm thực hiện đề tài đã đề xuất phương án sản xuất và hướng mở rộng ứng dụng enzyme protease tái tổ hợp để sản xuất nước chấm từ đậu nành, xử lý vỏ tôm để thu chitin và xử lý nước thải lò mổ tại Thừa Thiên Huế.

6. Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin và viễn thông

Ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) trong tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế. Hình thành mạng thông tin của tỉnh liên kết với mạng thông tin quốc gia và một số mạng thông tin quốc tế.

CNTT đã được áp dụng trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và các ngành kinh tế của tỉnh, nâng cao hiệu quả lãnh đạo quản lý và điều hành.

Đã xây dựng kết cấu hạ tầng CNTT và viễn thông mạnh, an toàn, thông suốt, xây dựng trung tâm tích hợp thông tin, hệ cơ sở dữ liệu tập trung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, tài nguyên văn hóa... tạo ra hiệu quả khai thác thông tin trong toàn xã hội. Nhiều cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên ngành đã triển khai mạng cục bộ và một số mạng diện rộng. Nhiều doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin đã đem lại hiệu quả kinh tế cao như Công ty Tư vấn Thiết kế Xây dựng, Công ty Tư vấn Thiết kế Công trình Giao thông, Bưu điện tỉnh...

Dự án “Xây dựng hệ thống thông tin địa lý tỉnh Thừa Thiên Huế (GISHue)” được phê duyệt năm 2005, là một dự án công nghệ cao, vừa thi công vừa điều chỉnh thiết kế, sau 6 năm triển khai thực hiện đã hoàn thành khối lượng các hạng mục của dự án. Đây là dự án đầu tiên trong nước xây dựng hệ thống thông tin địa lý một cách đồng bộ, đa chức năng với nội dung đa ngành cho một địa phương cấp tỉnh. Toàn bộ 11 hạng mục của dự án đã được nghiệm thu, bàn giao đưa vào khai thác ứng dụng một cách có hiệu quả. Việc đưa kết quả dự án vào sử dụng là một bước tiến mới trong công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đánh giá cao kết quả của dự án GISHue và quyết định sẽ phối hợp đầu tư nhân rộng kết quả này cho các địa phương khác.

B. Định hướng về ứng dụng các tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội

- Tăng cường hợp tác, liên kết trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học. Khuyến khích các hoạt động môi giới, chuyển giao công nghệ, đăng ký sở  hữu trí tuệ, đăng ký thương hiệu. Đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn vốn cho KH&CN, hình thành thị trường KH&CN.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học về giống cây trồng và vật nuôi; chú trọng bảo tồn và phát triển các giống cây, con là sản phẩm đặc sản của Thừa Thiên Huế; nghiên cứu ứng dụng và hoàn thiện các quy trình tiên tiến nuôi một số đối tượng thủy - hải sản có giá trị theo hướng sản xuất hàng hóa và phục vụ xuất khẩu.

- Nghiên cứu, lựa chọn để tiếp thu, làm chủ và phát triển các công nghệ mới cho các ngành công nghiệp, dịch vụ chủ lực của tỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ, thiết bị hiện đại để sản xuất, chế biến các sản phẩm thuộc nhóm hàng có lợi thế cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

- Ứng dụng các tiến bộ KH&CN trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Huế, xây dựng Huế thành thành phố Festival đặc trưng, phục vụ kinh tế du lịch.

C. Kết luận

Giai đoạn 2010-2012, hoạt động ứng dụng tiến bộ KH&CN đã mang lại những kết quả nổi bật, đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng của địa phương.

Việc ứng dụng tiến bộ KH&CN đã thực sự mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, dân trí và cải thiện đời sống người dân. Nhiều ứng dụng cho kết quả tốt, hiện đang được duy trì và nhân rộng. Điều đặc biệt quan trọng là những kết quả cụ thể của từng ứng dụng tiến bộ KH&CN, người dân đã có niềm tin và nhận thức được hiệu quả tác động của KH&CN nên đã chủ động và mạnh dạn đầu tư vốn, tăng cường trang thiết bị và mở rộng quy mô sản xuất.

Trần Ngọc Nam

 (Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ)

 

    gửi mail   in
Các tin khác
Xem tin theo ngày