Tìm kiếm tin tức

Chung nhan Tin Nhiem Mang

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Ngày cập nhật 07/08/2015

   Từ ngày 29 đến ngày 31/7 /2015 tại thành phố Đà Nẵng, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ (KH&CN) quốc gia phối hợp với Trường Quản lý KH&CN đã tổ chức lớp tập huấn “Nghiệp vụ Thông tin và Thống kê KH&CN”. Hơn 150 đại biểu đã tham dự, gồm đại diện của Bộ KH&CN, lãnh đạo các Sở KH&CN và các tổ chức thực hiện công tác thông tin và thống kê KH&CN của gần 50 tỉnh/thành trên toàn quốc. Lớp tập huấn đã được nghe và hướng dẫn về hoạt động động thông tin KH&CN, hoạt động thống kê KH&CN; hướng dẫn thu thập, đăng ký, lưu trữ và công bố thông tin nhiệm vụ KH&CN…

   1. Xu thế, chiến lược và Chính sách phát triển ngành thông tin KH&CN
   Quan điểm phát triển công tác thông tin KH&CN ở nước ta từ nay tới năm 2020
   Phát triển công tác thông tin, thư viện và thống kê KH&CN ở nước ta giai đoạn đến năm 2020 cần được nhìn nhận từ 3 quan điểm cơ bản, đó là:
   - Phát triển tin lực KH&CN như một bộ phận cấu thành của tiềm lực KH&CN. Cùng với nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực KH&CN là hạ tầng dẫn động của KH&CN, nền tảng của kinh tế tri thức. Tri thức là sức mạnh; Thông tin KH&CN là quyền lực cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đầu tư vào công tác thông tin, thư viện và thống kê KH&CN là đầu tư phát triển, đầu tư cho hôm nay và cho mai sau của đất nước.
   - Công tác thông tin KH&CN cần được nhìn nhận và phát triển như một lĩnh vực dịch vụ công cần được nhà nước đầu tư thỏa đáng kết hợp với việc xã hội hóa từng bước công tác thông tin, thư viện và thống kê KH&CN. Đáp ứng nhu cầu người dung tin cụ thể (người dung tin trực tiếp) - vừa là mục tiêu, động lực, nguồn lực vừa là thước đo hiệu quả công tác thông tin KH&CN.
   - Đi thẳng vào hiện đại và tương hợp quốc tế trong các khâu, lĩnh vực chủ chốt của hoạt động thong tin KH&CN, đặc biệt là khâu xử lý, chia sẽ và phổ biến thông tin trong nước và quốc tế.
   Định hướng chiến lược phát triển công tác thông tin, thư viện, thống kê KH&CN Việt Nam từ nay đến năm 2020
   - Phát triển công tác thông tin, thống kê KH&CN theo chuẩn mực và bảo đảm tương hợp quốc tế;
   - Nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống thông tin, thống kê KH&CN quốc gia đạt trình độ tiên tiến trong lĩnh vực; trong giai đoạn 2011-2015, tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính, nhân lực, kết quả nghiên cứu, công bố khoa học và cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghệ;
   - Bổ sung, cập nhật các nguồn tin KH&CN quạn trọng của thế giới; phát triển các nguồn tin KH&CN trong nước; phát triển Liên hiệp thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử phục vụ nghiên cứu, đào tạo và đổi mới công nghệ;
   - Duy trì và phát triển Mạng Nghiên cứu và đào tạo Việt Nam; kết nối với các mạng tiên tiến quốc tế TEIN4, APAN và GLORIAD; đến năm 2015 kết nối 50%, đến năm 2020 kết nối 100% viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, phòng thí nghiệm trọng điểm, bệnh viên lớn và các trung tâm thông tin-thư viện quan trọng của cả nước;
   - Ưu tiên đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác hiệu quả Trung tâm Thông tin khoa học và giao dịch công nghệ quốc gia tại Hà Nội, Trung tâm Thông tin KH&CN khu vực phía Nam tại Tp Hồ Chí Minh và Trung tâm Thông tin KH&CN khu vực miền Trung và Tây Nguyên tại thành phố Đà Nẵng;
   - Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại cho các cơ quan thong tin KH&CN tại các bộ, ngành và địa phương;
   - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực thông tin, thư viện, thống kê KH&CN.
   Trọng tâm công tác thông tin KH&CN giai đoạn 2011-2015
   Theo định hướng chiến lược phát triển nêu trên, trong giai đoạn 2011-2015, công tác thông tin, thống kê KH&CN cần tập trung thực hiện các trọng tâm công tác như sau:
   - Đẩy mạnh quản lý nhà nước về thông tin, thư viện và thống kê KH&CN. Kiện toàn hệ thống các tổ chức thong tin, thống kê KH&CN;
   - Phát triển tin lực KH&CN của đất nước nhằm đáp ứng một cách có hiệu quả nhu cầu của xá hội trên cơ sở bổ sung và đẩy mạnh khai thác các nguồn tin trọng yếu của thế giới và trong nước;
   - Phát triển dịch vụ phân tích thông tin có giá trị gia tăng cao đáp ứng nhu cầu lãnh đạo, quản lý trong hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển, chiến lược kinh doanh, mở rộng thị trường…
   - Đẩy mạnh dịch vụ thông tin giao dịch công nghệ góp phần phát triển thị trường công nghệ Việt Nam;
   - Đẩy mạnh công tác thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội ở các địa phương, nông thôn, miền núi;
   - Duy trì và phát triển Mạng thong tin KH&CN Việt Nam (VISTA), Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam (VinaREN)
   - Nâng cấp và hiện đại hóa Hệ thống thông tin, thống kê KH&CN quốc gia. Tăng cường hợp tác, hội nhập quốc tế;
   Văn bản pháp quy trong hoạt động thông tin KH&CN
   Trong suốt quá trình phát triển, hoạt động thông tin, thống kê KH&CN ở nước ta luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo. Cho đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cụ thể hóa chính sách phát triển của hoạt động thông tin, thống kê KH&CN và gần đây nhất là những văn bản chỉ đạo, triển khai văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI. Sau đây là những văn bản quan trọng cơ bản:
   - Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 09/01/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, trong đó tại điểm 3 phần III đã chỉ rõ “Có biện pháp đẩy mạnh phát triển các hoạt động dịch vụ KH&CN, đặc biệt là dịch vụ thông tin, tư vấn, mô giới, đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; Phát triển và kiện toàn hệ thống các trung tâm thông tin KH&CN…”.
   - Nghị quyết số 175/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/01/2011 về phê duyệt Chiến lượt tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020 “Phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động dịch vụ KH&CN; tăng cường phát triển mạng lưới các tổ chức dịch vụ KH&CN. Tăng cường tác thống kê tiềm lực KH&CN…”.
   - Quyết định số 809/QĐ-BKHCN ngày 25/3/2011 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về Chương trình hành động của Bộ KH&CN triên khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 “Đẩy mạnh phát triển Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA), mở rộng kết nối Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam (VinaREN) tới 100% các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm trọng điểm, các trường đại học, các bệnh viện lớn, các trung tâm thông tin-thư viện quan trọng”.
   - Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2011-2015, xác định rõ một trong những nhiệm vụ chủ yếu về đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN “a) Tổ chức triển khai có hiệu quả pháp luật về KH&CN. Kiện toàn tổ chức quản lý nhà nước về KH&CN ở các Bộ, ngành và địa phương.
   -  Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020
   - Luật KH&CN năm 2013 được Quốc hội khóa 13 thông qua vào ngày 18/6/2013 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014 đã có một số quy định mới lien quan đến hoạt động thông tin KH&CN, như sau:
   + Khoản 3 Điều 27 (Thẩm quyền phê duyệt, ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN) quy định: “3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm gửi báo cáo về Bộ KH&CN về việc phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN để tổng hợp, đưa vào cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN.”
   + Điều 39 (Đăng ký, lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN) Luật KH&CN 2013 quy định: “1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước phải đăng ký, lưu giữ tại cơ quan thông tin KH&CN quốc gia và tại cơ quan có thẩm quyền của bộ, ngành, địa phương chủ quản.”
   + Điều 40 (Trách nhiệm tiếp nhận và tổ chức ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN) đã quy định các Bộ, ngành và địa phương chủ quản phải “định kỳ hằng năm gửi báo cáo kết quả ứng dụng về Bộ KH&CN.”
   + Khoản 2 Điều 66 (Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật để phát triển KH&CN) quy định: “2. Căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển KH&CN quốc gia, bộ KH&CN chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan liên quan xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của tổ chức KH&CN quan trọng; phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế; cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”.
   + Điều 68 (Xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, thống kê về KH&CN) quy định: “Nhà nước đầu tư xây dựng, khuyến khích tổ chức, cá nhân tài trợ cho việc xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia và thống kê KH&CN hiện đại nhằm bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về hoạt động KH&CN trong nước và trên thế giới.”
   + Khoản 8 điều 50 (Mục đích chi ngân sách nhà nước cho KH&CN) Luật KH&CN 2013 đã xác định chi cho thông tin, thống kê KH&CN thuộc mục chi của Ngân sách Nhà nước.
   - Ngày 18/02/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2014/NĐ-CP về hoạt động thông tin KH&CN có hiệu lực từ ngày 15/4/2014 được ban hành đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về hoạt động thông tin KH&CN, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thông tin KH&CN. Nghị định đã nêu chi tiết nội dung hoạt động thông tin KH&CN bao quát từ việc tạo lập và phát triển nguồn tin đến sử dụng, phổ biến và cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN nhằm phục vụ cho dự bán, hoạch định, chính sách, lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế-xã hội khác.
   - Thông tư số 14/2014TT-BKHCN ngày 11/6/2014 của Bộ trưởng Bộ KH&CN quy định về việc thu thập, đăng ký, lưu giữ và công bố thông tin về nhiệm vụ KH&CN. Nội dung Thông tư đã cụ thể hóa một chu trình thông tin hoàn chỉnh về tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành; hồ sơ, thủ tục, trình tự đăng ký, lưu giữ và báo cáo thông tin kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN; và công bố thông tin về nhiệm vụ KH&CN.
   - Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 “Thực hiện nghiêm túc việc công khai hóa việc đăng ký, triển khai thực hiện, kết quả và việc ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN, các phát minh sáng chế, đổi mới sáng tạo về KH&CN; xây dựng và đưa vào khai thác có hiệu quả các cơ sở dữ liệu quốc gia và của các Bộ, cơ quan, địa phương theo Nghị định về hoạt động thông tin KH&CN”.
   - Quyết định số 95/QĐ-BKHCN ngày 19/01/2015 của Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành chương trình hành động của Bộ KH&CN thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015.
   - Quyết định số 1318/QĐ-BKHCN ngày 05/6/2015 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2016-2020.
   - Triển khai thực hiện Quyết định số 1416/QĐ-BKHCN ngày 06/6/2013 của Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động Cục Thông tin KH&CN quốc gia. Quyết định này thay thế cho quyết định 116/QĐ-BKHCN ngày 20/01/2010 nói trên nhằm đáp ứng những yêu cầu về công tác thông tin, thư viện, thống kê KH&CN. Cục Thông tin KH&CN quốc gia được giao thêm chức năng giúp Bộ trưởng xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN.
   2. Mạng lưới thông tin KH&CN quốc gia
   Tổ chức Mạng lưới thông tin KH&CN Quốc gia
   Hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam đã có một bề dầy lịch sử phát triển trên 50 năm. Bắt đầu được hình thành từ cuối những năm 50, phát triển mạnh vào những năm 70 và kiện toàn vào những năm 80 của thế kỷ XX và đến nay hoạt động thông tin, thống kê KH&CN đã hình thành một mạng lưới thông tin KH&CN tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học.
   Hiện trạng tổ chức trước khi Nghị định số 11/2014/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN được ban hành
   - Độ phủ hoạt động thông tin, thư viên, thống kê KH&CN: được tính bằng sự hiện diện của tổ chức chuyên trách hoặc kiêm nhiệm hoạt động thông tin, thư viện, thống kê KH&CN tại cơ quan được khảo sát. Tổng hợp kết quả khảo sát độ phủ hoạt động thông tin, thư viện, thống kê KH&CN sẽ phản ánh “sức sống” hiện tại của hoạt động thông tin, thư viên, thống kê KH&CN tại các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu và trường đại học.
   - Tên gọi tổ chức: mạng lưới thông tin, thống kê KH&CN Việt Nam được xây dựng theo mô hình 4 cấp: Trung ương, Bộ, ngành, địa phương và cơ sở.
   + Cục Thông tin KH&CN quốc gia là cơ quan quản lý nhà nước về thông tin, thư viện và thống kê KH&CN.
   + 34 cơ quan thông tin KH&CN thuộc Bộ, ngành dưới 11 tên gọi khác nhau. Trong đó, một số tên gọi chiếm tỷ lệ cao như: Trung tâm Thông tin (24%); Trung tâm thông tin + tên lĩnh vực hoạt động (27%); Trung tâm Thông tin-Thư viện (12%).
   + Tại 63 Sở KH&CN, có 38 Trung tâm Thông tin (chiếm 60,3%) rất đa dạng về tên gọi. Trong đó, tên gọi Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN khá phổ biến do tác động của Thông tư liên tịch số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15/7/2003 của Bộ KH&CN và Bộ Nội vụ đã quy định thành lập Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN tại Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 15 Sở KH&CN có Phòng Thông tin (chiếm 23,8%) cũng theo các tên gọi khác nhau; 10 sở KH&CN chưa có đơn vị Thông tin KH&CN độc lập (chiếm 15,9%), đa số nhiệm vụ thông tin KH&CN được giao Phòng Quản lý chuyên ngành.
   + Khu vực trường đại học và viện nghiên cứu, đặc biệt là khu vực viện nghiên cứu, đa phần tổ chức thông tin mang tên là “Thư viện” đơn thuần, chiếm 84,5% ở viện nghiên cứu và 55, 5% ở trường học.
   Mạng lưới thống kê KH&CN cần được tích hợp trong mạng lưới thông tin KH&CN để bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả về phương pháp luận cũng như kỹ thuật nghiệp vụ về thống kê KH&CN. Nhiệm vụ này chủ yếu được triển khai ở khu vực bộ, ngành và khu vực địa phương. Khu vực địa phương triển khai tốt hơn, có 74,6% cơ quan thông tin được giao nhiệm vụ thống kê KH&CN còn ở khu vực bộ, ngành chỉ khoảng 16%. Tương tự như vậy với thực hiện nhiệm vụ đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN, ở địa phương có 52% Sở KH&CN thực hiện còn ở khu vực bộ, ngành chỉ có 8%.
   Hiện trạng tổ chức sau khi Nghị định số 11/2014NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN được ban hành
   Để đảm bảo sự phối hợp thống nhất về quản lý nhà nước và hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong toàn bộ mạng lưới thông tin, thống kê trên cả nước, có sự thống nhất ngành dọc các tổ chức thông tin, thống kê KH&CN từ trung ương đến địa phương, tại các Điều 26, 27, 28 của Nghị định số 11/2014/NĐ-CP đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, tính đến ngày 15/11/2014, đã có 30 bộ, ngành và 63tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đã chỉ định các đơn vị thực hiện tổ chức đầu mối thông tin KH&CN.
   Nguồn tin Hệ thống
   Nguồn tin-nguyên liệu cơ bản của hoạt động thông tin ngày càng được chú trọng lựa chọn, thu thập bổ sung một cách chủ động. Trong nhưng năm gần đây, hàng năm nhà nước đầu tư trên 1 triệu USD cho các cơ quan thông tin, thư viện để mua sách báo và các nguồn tin điện tử của nước ngoài. Đến nay trong toàn hệ thống đã tổ chức và quản lý nguồn tin KH&CN khá đồ sộ có hơn 2 triệu đầu sách; 6.000 tên tạp chí (mỗi năm được bổ sung them khoảng 1.500 tên); 20 triệu bản mô tả sáng chế phát minh; 200.000 tiêu chuẩn; 50.000 catalo công nghiệp; 4.000 bộ báo cáo địa chất, 4.000 báo cáo lâm nghiệp; 13.000 báo cáo kết quả nghiên cứu, luận án tiến sĩ; 20 triệu biểu ghi trên CD/ROM…
   Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng từ truyền thống tới hiện đại:
   - Ấn phẩm thông tin: Hiện tại, trong toàn hệ thống có gần 300 ấn phẩm thông tin định kỳ, trong đó có hàng chục ấn phẩm bằng tiếng Anh dùng để trao đổi quốc tế...
   - CSDL, ngân hàng dữ liệu: Trong hệ thống thông tin KH&CN quốc gia có tới trên 300 CSDL tư liệu và dữ kiện. Hầu hết đều là các CSDL nhỏ dùng để quản trị các kho tư liệu của cơ quan. Tuy nhiên, cũng có những CSDL lớn tới 500.000 biểu ghi như một số CSDL của Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia. Các CSDL bắt đầu được xây dựng từ cuối những năm 80 và phát triển mạnh vào những năm 90, chủ yếu được thiết kế theo CDS/ISIS, FOXPRO, ORACLE, ACCESS… Phổ biến nhất vẫn là các CSDL về sách, các bài báo, tài liệu hội thảo, hội nghị, luận văn, kết quả nghiên cứu, tiêu chuẩn, mô tả sáng chế, thiết bị và công nghệ, chuyên gia tư vấn.
   - Các bản tin điện tử: Là dạng sản phẩm mới của các cơ quan thông tin KH&CN. Sản phẩm này bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ năm 1995 và đặc biệt phát triển nhanh về số lượng cũng như chất lượng từ năm 1997, khi Việt Nam bắt đầu hòa nhập Internet. Hiện nay hầu hết các cơ quan thông tin trung ương, bộ/ngành, địa phương, thậm chí cả cở sở, điều xuất bản bản tin điện tử và vai trò của nó ngày càng tăng. Hầu hết các ấn phẩm thông tin KH&CN, ngoài bản in trên giấy điều có bản điện tử đưa lên mạng hoặc trên CD/ROM.
   - Các Website, các thư viện điện tử, các mạng thông tin phục vụ chuyên ngành: Việc áp dụng các công nghệ thông tin mới trong hoạt động thông tin KH&CN ngày càng được chú trọng và phát triển mạnh mẽ. Đến nay, hầu hết các cơ quan thông tin KH&CN ở trung ương, bộ/ngành và những thành phố lớn điều đã xây dựng Website về KH&CN; một số cơ quan đã tạo lập thư viện điện tử chuyên ngành. Đặc biệt, trong phạm vi hệ thống thông tin KH&CN quốc gia có: Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA); mạng thông tin KH&CN phục vụ vùng sâu, vùng xa; mạng thông tin KH&CN phục vụ doanh nghiệp; Chợ ảo về Công nghệ và Thiết bị Việt Nam… Những mạng này đã có nhiều đóng góp trong việc cung cấp thông tin KH&CN một cách kịp thời cho các đối tượng dùng tin.
   Ngọc Hân

 

Các tin khác
Xem tin theo ngày  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Ngày cập nhật 07/08/2015

   Từ ngày 29 đến ngày 31/7 /2015 tại thành phố Đà Nẵng, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ (KH&CN) quốc gia phối hợp với Trường Quản lý KH&CN đã tổ chức lớp tập huấn “Nghiệp vụ Thông tin và Thống kê KH&CN”. Hơn 150 đại biểu đã tham dự, gồm đại diện của Bộ KH&CN, lãnh đạo các Sở KH&CN và các tổ chức thực hiện công tác thông tin và thống kê KH&CN của gần 50 tỉnh/thành trên toàn quốc. Lớp tập huấn đã được nghe và hướng dẫn về hoạt động động thông tin KH&CN, hoạt động thống kê KH&CN; hướng dẫn thu thập, đăng ký, lưu trữ và công bố thông tin nhiệm vụ KH&CN…

   1. Xu thế, chiến lược và Chính sách phát triển ngành thông tin KH&CN
   Quan điểm phát triển công tác thông tin KH&CN ở nước ta từ nay tới năm 2020
   Phát triển công tác thông tin, thư viện và thống kê KH&CN ở nước ta giai đoạn đến năm 2020 cần được nhìn nhận từ 3 quan điểm cơ bản, đó là:
   - Phát triển tin lực KH&CN như một bộ phận cấu thành của tiềm lực KH&CN. Cùng với nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực KH&CN là hạ tầng dẫn động của KH&CN, nền tảng của kinh tế tri thức. Tri thức là sức mạnh; Thông tin KH&CN là quyền lực cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đầu tư vào công tác thông tin, thư viện và thống kê KH&CN là đầu tư phát triển, đầu tư cho hôm nay và cho mai sau của đất nước.
   - Công tác thông tin KH&CN cần được nhìn nhận và phát triển như một lĩnh vực dịch vụ công cần được nhà nước đầu tư thỏa đáng kết hợp với việc xã hội hóa từng bước công tác thông tin, thư viện và thống kê KH&CN. Đáp ứng nhu cầu người dung tin cụ thể (người dung tin trực tiếp) - vừa là mục tiêu, động lực, nguồn lực vừa là thước đo hiệu quả công tác thông tin KH&CN.
   - Đi thẳng vào hiện đại và tương hợp quốc tế trong các khâu, lĩnh vực chủ chốt của hoạt động thong tin KH&CN, đặc biệt là khâu xử lý, chia sẽ và phổ biến thông tin trong nước và quốc tế.
   Định hướng chiến lược phát triển công tác thông tin, thư viện, thống kê KH&CN Việt Nam từ nay đến năm 2020
   - Phát triển công tác thông tin, thống kê KH&CN theo chuẩn mực và bảo đảm tương hợp quốc tế;
   - Nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống thông tin, thống kê KH&CN quốc gia đạt trình độ tiên tiến trong lĩnh vực; trong giai đoạn 2011-2015, tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính, nhân lực, kết quả nghiên cứu, công bố khoa học và cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghệ;
   - Bổ sung, cập nhật các nguồn tin KH&CN quạn trọng của thế giới; phát triển các nguồn tin KH&CN trong nước; phát triển Liên hiệp thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử phục vụ nghiên cứu, đào tạo và đổi mới công nghệ;
   - Duy trì và phát triển Mạng Nghiên cứu và đào tạo Việt Nam; kết nối với các mạng tiên tiến quốc tế TEIN4, APAN và GLORIAD; đến năm 2015 kết nối 50%, đến năm 2020 kết nối 100% viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, phòng thí nghiệm trọng điểm, bệnh viên lớn và các trung tâm thông tin-thư viện quan trọng của cả nước;
   - Ưu tiên đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác hiệu quả Trung tâm Thông tin khoa học và giao dịch công nghệ quốc gia tại Hà Nội, Trung tâm Thông tin KH&CN khu vực phía Nam tại Tp Hồ Chí Minh và Trung tâm Thông tin KH&CN khu vực miền Trung và Tây Nguyên tại thành phố Đà Nẵng;
   - Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại cho các cơ quan thong tin KH&CN tại các bộ, ngành và địa phương;
   - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực thông tin, thư viện, thống kê KH&CN.
   Trọng tâm công tác thông tin KH&CN giai đoạn 2011-2015
   Theo định hướng chiến lược phát triển nêu trên, trong giai đoạn 2011-2015, công tác thông tin, thống kê KH&CN cần tập trung thực hiện các trọng tâm công tác như sau:
   - Đẩy mạnh quản lý nhà nước về thông tin, thư viện và thống kê KH&CN. Kiện toàn hệ thống các tổ chức thong tin, thống kê KH&CN;
   - Phát triển tin lực KH&CN của đất nước nhằm đáp ứng một cách có hiệu quả nhu cầu của xá hội trên cơ sở bổ sung và đẩy mạnh khai thác các nguồn tin trọng yếu của thế giới và trong nước;
   - Phát triển dịch vụ phân tích thông tin có giá trị gia tăng cao đáp ứng nhu cầu lãnh đạo, quản lý trong hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển, chiến lược kinh doanh, mở rộng thị trường…
   - Đẩy mạnh dịch vụ thông tin giao dịch công nghệ góp phần phát triển thị trường công nghệ Việt Nam;
   - Đẩy mạnh công tác thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội ở các địa phương, nông thôn, miền núi;
   - Duy trì và phát triển Mạng thong tin KH&CN Việt Nam (VISTA), Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam (VinaREN)
   - Nâng cấp và hiện đại hóa Hệ thống thông tin, thống kê KH&CN quốc gia. Tăng cường hợp tác, hội nhập quốc tế;
   Văn bản pháp quy trong hoạt động thông tin KH&CN
   Trong suốt quá trình phát triển, hoạt động thông tin, thống kê KH&CN ở nước ta luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo. Cho đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cụ thể hóa chính sách phát triển của hoạt động thông tin, thống kê KH&CN và gần đây nhất là những văn bản chỉ đạo, triển khai văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI. Sau đây là những văn bản quan trọng cơ bản:
   - Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 09/01/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, trong đó tại điểm 3 phần III đã chỉ rõ “Có biện pháp đẩy mạnh phát triển các hoạt động dịch vụ KH&CN, đặc biệt là dịch vụ thông tin, tư vấn, mô giới, đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; Phát triển và kiện toàn hệ thống các trung tâm thông tin KH&CN…”.
   - Nghị quyết số 175/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/01/2011 về phê duyệt Chiến lượt tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020 “Phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động dịch vụ KH&CN; tăng cường phát triển mạng lưới các tổ chức dịch vụ KH&CN. Tăng cường tác thống kê tiềm lực KH&CN…”.
   - Quyết định số 809/QĐ-BKHCN ngày 25/3/2011 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về Chương trình hành động của Bộ KH&CN triên khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 “Đẩy mạnh phát triển Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA), mở rộng kết nối Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam (VinaREN) tới 100% các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm trọng điểm, các trường đại học, các bệnh viện lớn, các trung tâm thông tin-thư viện quan trọng”.
   - Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2011-2015, xác định rõ một trong những nhiệm vụ chủ yếu về đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN “a) Tổ chức triển khai có hiệu quả pháp luật về KH&CN. Kiện toàn tổ chức quản lý nhà nước về KH&CN ở các Bộ, ngành và địa phương.
   -  Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020
   - Luật KH&CN năm 2013 được Quốc hội khóa 13 thông qua vào ngày 18/6/2013 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014 đã có một số quy định mới lien quan đến hoạt động thông tin KH&CN, như sau:
   + Khoản 3 Điều 27 (Thẩm quyền phê duyệt, ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN) quy định: “3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm gửi báo cáo về Bộ KH&CN về việc phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN để tổng hợp, đưa vào cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN.”
   + Điều 39 (Đăng ký, lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN) Luật KH&CN 2013 quy định: “1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước phải đăng ký, lưu giữ tại cơ quan thông tin KH&CN quốc gia và tại cơ quan có thẩm quyền của bộ, ngành, địa phương chủ quản.”
   + Điều 40 (Trách nhiệm tiếp nhận và tổ chức ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN) đã quy định các Bộ, ngành và địa phương chủ quản phải “định kỳ hằng năm gửi báo cáo kết quả ứng dụng về Bộ KH&CN.”
   + Khoản 2 Điều 66 (Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật để phát triển KH&CN) quy định: “2. Căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển KH&CN quốc gia, bộ KH&CN chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan liên quan xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của tổ chức KH&CN quan trọng; phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế; cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”.
   + Điều 68 (Xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, thống kê về KH&CN) quy định: “Nhà nước đầu tư xây dựng, khuyến khích tổ chức, cá nhân tài trợ cho việc xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia và thống kê KH&CN hiện đại nhằm bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về hoạt động KH&CN trong nước và trên thế giới.”
   + Khoản 8 điều 50 (Mục đích chi ngân sách nhà nước cho KH&CN) Luật KH&CN 2013 đã xác định chi cho thông tin, thống kê KH&CN thuộc mục chi của Ngân sách Nhà nước.
   - Ngày 18/02/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2014/NĐ-CP về hoạt động thông tin KH&CN có hiệu lực từ ngày 15/4/2014 được ban hành đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về hoạt động thông tin KH&CN, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thông tin KH&CN. Nghị định đã nêu chi tiết nội dung hoạt động thông tin KH&CN bao quát từ việc tạo lập và phát triển nguồn tin đến sử dụng, phổ biến và cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN nhằm phục vụ cho dự bán, hoạch định, chính sách, lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế-xã hội khác.
   - Thông tư số 14/2014TT-BKHCN ngày 11/6/2014 của Bộ trưởng Bộ KH&CN quy định về việc thu thập, đăng ký, lưu giữ và công bố thông tin về nhiệm vụ KH&CN. Nội dung Thông tư đã cụ thể hóa một chu trình thông tin hoàn chỉnh về tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành; hồ sơ, thủ tục, trình tự đăng ký, lưu giữ và báo cáo thông tin kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN; và công bố thông tin về nhiệm vụ KH&CN.
   - Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 “Thực hiện nghiêm túc việc công khai hóa việc đăng ký, triển khai thực hiện, kết quả và việc ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN, các phát minh sáng chế, đổi mới sáng tạo về KH&CN; xây dựng và đưa vào khai thác có hiệu quả các cơ sở dữ liệu quốc gia và của các Bộ, cơ quan, địa phương theo Nghị định về hoạt động thông tin KH&CN”.
   - Quyết định số 95/QĐ-BKHCN ngày 19/01/2015 của Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành chương trình hành động của Bộ KH&CN thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015.
   - Quyết định số 1318/QĐ-BKHCN ngày 05/6/2015 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2016-2020.
   - Triển khai thực hiện Quyết định số 1416/QĐ-BKHCN ngày 06/6/2013 của Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động Cục Thông tin KH&CN quốc gia. Quyết định này thay thế cho quyết định 116/QĐ-BKHCN ngày 20/01/2010 nói trên nhằm đáp ứng những yêu cầu về công tác thông tin, thư viện, thống kê KH&CN. Cục Thông tin KH&CN quốc gia được giao thêm chức năng giúp Bộ trưởng xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN.
   2. Mạng lưới thông tin KH&CN quốc gia
   Tổ chức Mạng lưới thông tin KH&CN Quốc gia
   Hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam đã có một bề dầy lịch sử phát triển trên 50 năm. Bắt đầu được hình thành từ cuối những năm 50, phát triển mạnh vào những năm 70 và kiện toàn vào những năm 80 của thế kỷ XX và đến nay hoạt động thông tin, thống kê KH&CN đã hình thành một mạng lưới thông tin KH&CN tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học.
   Hiện trạng tổ chức trước khi Nghị định số 11/2014/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN được ban hành
   - Độ phủ hoạt động thông tin, thư viên, thống kê KH&CN: được tính bằng sự hiện diện của tổ chức chuyên trách hoặc kiêm nhiệm hoạt động thông tin, thư viện, thống kê KH&CN tại cơ quan được khảo sát. Tổng hợp kết quả khảo sát độ phủ hoạt động thông tin, thư viện, thống kê KH&CN sẽ phản ánh “sức sống” hiện tại của hoạt động thông tin, thư viên, thống kê KH&CN tại các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu và trường đại học.
   - Tên gọi tổ chức: mạng lưới thông tin, thống kê KH&CN Việt Nam được xây dựng theo mô hình 4 cấp: Trung ương, Bộ, ngành, địa phương và cơ sở.
   + Cục Thông tin KH&CN quốc gia là cơ quan quản lý nhà nước về thông tin, thư viện và thống kê KH&CN.
   + 34 cơ quan thông tin KH&CN thuộc Bộ, ngành dưới 11 tên gọi khác nhau. Trong đó, một số tên gọi chiếm tỷ lệ cao như: Trung tâm Thông tin (24%); Trung tâm thông tin + tên lĩnh vực hoạt động (27%); Trung tâm Thông tin-Thư viện (12%).
   + Tại 63 Sở KH&CN, có 38 Trung tâm Thông tin (chiếm 60,3%) rất đa dạng về tên gọi. Trong đó, tên gọi Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN khá phổ biến do tác động của Thông tư liên tịch số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15/7/2003 của Bộ KH&CN và Bộ Nội vụ đã quy định thành lập Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN tại Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 15 Sở KH&CN có Phòng Thông tin (chiếm 23,8%) cũng theo các tên gọi khác nhau; 10 sở KH&CN chưa có đơn vị Thông tin KH&CN độc lập (chiếm 15,9%), đa số nhiệm vụ thông tin KH&CN được giao Phòng Quản lý chuyên ngành.
   + Khu vực trường đại học và viện nghiên cứu, đặc biệt là khu vực viện nghiên cứu, đa phần tổ chức thông tin mang tên là “Thư viện” đơn thuần, chiếm 84,5% ở viện nghiên cứu và 55, 5% ở trường học.
   Mạng lưới thống kê KH&CN cần được tích hợp trong mạng lưới thông tin KH&CN để bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả về phương pháp luận cũng như kỹ thuật nghiệp vụ về thống kê KH&CN. Nhiệm vụ này chủ yếu được triển khai ở khu vực bộ, ngành và khu vực địa phương. Khu vực địa phương triển khai tốt hơn, có 74,6% cơ quan thông tin được giao nhiệm vụ thống kê KH&CN còn ở khu vực bộ, ngành chỉ khoảng 16%. Tương tự như vậy với thực hiện nhiệm vụ đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN, ở địa phương có 52% Sở KH&CN thực hiện còn ở khu vực bộ, ngành chỉ có 8%.
   Hiện trạng tổ chức sau khi Nghị định số 11/2014NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN được ban hành
   Để đảm bảo sự phối hợp thống nhất về quản lý nhà nước và hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong toàn bộ mạng lưới thông tin, thống kê trên cả nước, có sự thống nhất ngành dọc các tổ chức thông tin, thống kê KH&CN từ trung ương đến địa phương, tại các Điều 26, 27, 28 của Nghị định số 11/2014/NĐ-CP đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, tính đến ngày 15/11/2014, đã có 30 bộ, ngành và 63tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đã chỉ định các đơn vị thực hiện tổ chức đầu mối thông tin KH&CN.
   Nguồn tin Hệ thống
   Nguồn tin-nguyên liệu cơ bản của hoạt động thông tin ngày càng được chú trọng lựa chọn, thu thập bổ sung một cách chủ động. Trong nhưng năm gần đây, hàng năm nhà nước đầu tư trên 1 triệu USD cho các cơ quan thông tin, thư viện để mua sách báo và các nguồn tin điện tử của nước ngoài. Đến nay trong toàn hệ thống đã tổ chức và quản lý nguồn tin KH&CN khá đồ sộ có hơn 2 triệu đầu sách; 6.000 tên tạp chí (mỗi năm được bổ sung them khoảng 1.500 tên); 20 triệu bản mô tả sáng chế phát minh; 200.000 tiêu chuẩn; 50.000 catalo công nghiệp; 4.000 bộ báo cáo địa chất, 4.000 báo cáo lâm nghiệp; 13.000 báo cáo kết quả nghiên cứu, luận án tiến sĩ; 20 triệu biểu ghi trên CD/ROM…
   Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng từ truyền thống tới hiện đại:
   - Ấn phẩm thông tin: Hiện tại, trong toàn hệ thống có gần 300 ấn phẩm thông tin định kỳ, trong đó có hàng chục ấn phẩm bằng tiếng Anh dùng để trao đổi quốc tế...
   - CSDL, ngân hàng dữ liệu: Trong hệ thống thông tin KH&CN quốc gia có tới trên 300 CSDL tư liệu và dữ kiện. Hầu hết đều là các CSDL nhỏ dùng để quản trị các kho tư liệu của cơ quan. Tuy nhiên, cũng có những CSDL lớn tới 500.000 biểu ghi như một số CSDL của Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia. Các CSDL bắt đầu được xây dựng từ cuối những năm 80 và phát triển mạnh vào những năm 90, chủ yếu được thiết kế theo CDS/ISIS, FOXPRO, ORACLE, ACCESS… Phổ biến nhất vẫn là các CSDL về sách, các bài báo, tài liệu hội thảo, hội nghị, luận văn, kết quả nghiên cứu, tiêu chuẩn, mô tả sáng chế, thiết bị và công nghệ, chuyên gia tư vấn.
   - Các bản tin điện tử: Là dạng sản phẩm mới của các cơ quan thông tin KH&CN. Sản phẩm này bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ năm 1995 và đặc biệt phát triển nhanh về số lượng cũng như chất lượng từ năm 1997, khi Việt Nam bắt đầu hòa nhập Internet. Hiện nay hầu hết các cơ quan thông tin trung ương, bộ/ngành, địa phương, thậm chí cả cở sở, điều xuất bản bản tin điện tử và vai trò của nó ngày càng tăng. Hầu hết các ấn phẩm thông tin KH&CN, ngoài bản in trên giấy điều có bản điện tử đưa lên mạng hoặc trên CD/ROM.
   - Các Website, các thư viện điện tử, các mạng thông tin phục vụ chuyên ngành: Việc áp dụng các công nghệ thông tin mới trong hoạt động thông tin KH&CN ngày càng được chú trọng và phát triển mạnh mẽ. Đến nay, hầu hết các cơ quan thông tin KH&CN ở trung ương, bộ/ngành và những thành phố lớn điều đã xây dựng Website về KH&CN; một số cơ quan đã tạo lập thư viện điện tử chuyên ngành. Đặc biệt, trong phạm vi hệ thống thông tin KH&CN quốc gia có: Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA); mạng thông tin KH&CN phục vụ vùng sâu, vùng xa; mạng thông tin KH&CN phục vụ doanh nghiệp; Chợ ảo về Công nghệ và Thiết bị Việt Nam… Những mạng này đã có nhiều đóng góp trong việc cung cấp thông tin KH&CN một cách kịp thời cho các đối tượng dùng tin.
   Ngọc Hân

 

Các tin khác
Xem tin theo ngày  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Ngày cập nhật 07/08/2015

   Từ ngày 29 đến ngày 31/7 /2015 tại thành phố Đà Nẵng, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ (KH&CN) quốc gia phối hợp với Trường Quản lý KH&CN đã tổ chức lớp tập huấn “Nghiệp vụ Thông tin và Thống kê KH&CN”. Hơn 150 đại biểu đã tham dự, gồm đại diện của Bộ KH&CN, lãnh đạo các Sở KH&CN và các tổ chức thực hiện công tác thông tin và thống kê KH&CN của gần 50 tỉnh/thành trên toàn quốc. Lớp tập huấn đã được nghe và hướng dẫn về hoạt động động thông tin KH&CN, hoạt động thống kê KH&CN; hướng dẫn thu thập, đăng ký, lưu trữ và công bố thông tin nhiệm vụ KH&CN…

   1. Xu thế, chiến lược và Chính sách phát triển ngành thông tin KH&CN
   Quan điểm phát triển công tác thông tin KH&CN ở nước ta từ nay tới năm 2020
   Phát triển công tác thông tin, thư viện và thống kê KH&CN ở nước ta giai đoạn đến năm 2020 cần được nhìn nhận từ 3 quan điểm cơ bản, đó là:
   - Phát triển tin lực KH&CN như một bộ phận cấu thành của tiềm lực KH&CN. Cùng với nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực KH&CN là hạ tầng dẫn động của KH&CN, nền tảng của kinh tế tri thức. Tri thức là sức mạnh; Thông tin KH&CN là quyền lực cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đầu tư vào công tác thông tin, thư viện và thống kê KH&CN là đầu tư phát triển, đầu tư cho hôm nay và cho mai sau của đất nước.
   - Công tác thông tin KH&CN cần được nhìn nhận và phát triển như một lĩnh vực dịch vụ công cần được nhà nước đầu tư thỏa đáng kết hợp với việc xã hội hóa từng bước công tác thông tin, thư viện và thống kê KH&CN. Đáp ứng nhu cầu người dung tin cụ thể (người dung tin trực tiếp) - vừa là mục tiêu, động lực, nguồn lực vừa là thước đo hiệu quả công tác thông tin KH&CN.
   - Đi thẳng vào hiện đại và tương hợp quốc tế trong các khâu, lĩnh vực chủ chốt của hoạt động thong tin KH&CN, đặc biệt là khâu xử lý, chia sẽ và phổ biến thông tin trong nước và quốc tế.
   Định hướng chiến lược phát triển công tác thông tin, thư viện, thống kê KH&CN Việt Nam từ nay đến năm 2020
   - Phát triển công tác thông tin, thống kê KH&CN theo chuẩn mực và bảo đảm tương hợp quốc tế;
   - Nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống thông tin, thống kê KH&CN quốc gia đạt trình độ tiên tiến trong lĩnh vực; trong giai đoạn 2011-2015, tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính, nhân lực, kết quả nghiên cứu, công bố khoa học và cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghệ;
   - Bổ sung, cập nhật các nguồn tin KH&CN quạn trọng của thế giới; phát triển các nguồn tin KH&CN trong nước; phát triển Liên hiệp thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử phục vụ nghiên cứu, đào tạo và đổi mới công nghệ;
   - Duy trì và phát triển Mạng Nghiên cứu và đào tạo Việt Nam; kết nối với các mạng tiên tiến quốc tế TEIN4, APAN và GLORIAD; đến năm 2015 kết nối 50%, đến năm 2020 kết nối 100% viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, phòng thí nghiệm trọng điểm, bệnh viên lớn và các trung tâm thông tin-thư viện quan trọng của cả nước;
   - Ưu tiên đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác hiệu quả Trung tâm Thông tin khoa học và giao dịch công nghệ quốc gia tại Hà Nội, Trung tâm Thông tin KH&CN khu vực phía Nam tại Tp Hồ Chí Minh và Trung tâm Thông tin KH&CN khu vực miền Trung và Tây Nguyên tại thành phố Đà Nẵng;
   - Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại cho các cơ quan thong tin KH&CN tại các bộ, ngành và địa phương;
   - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực thông tin, thư viện, thống kê KH&CN.
   Trọng tâm công tác thông tin KH&CN giai đoạn 2011-2015
   Theo định hướng chiến lược phát triển nêu trên, trong giai đoạn 2011-2015, công tác thông tin, thống kê KH&CN cần tập trung thực hiện các trọng tâm công tác như sau:
   - Đẩy mạnh quản lý nhà nước về thông tin, thư viện và thống kê KH&CN. Kiện toàn hệ thống các tổ chức thong tin, thống kê KH&CN;
   - Phát triển tin lực KH&CN của đất nước nhằm đáp ứng một cách có hiệu quả nhu cầu của xá hội trên cơ sở bổ sung và đẩy mạnh khai thác các nguồn tin trọng yếu của thế giới và trong nước;
   - Phát triển dịch vụ phân tích thông tin có giá trị gia tăng cao đáp ứng nhu cầu lãnh đạo, quản lý trong hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển, chiến lược kinh doanh, mở rộng thị trường…
   - Đẩy mạnh dịch vụ thông tin giao dịch công nghệ góp phần phát triển thị trường công nghệ Việt Nam;
   - Đẩy mạnh công tác thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội ở các địa phương, nông thôn, miền núi;
   - Duy trì và phát triển Mạng thong tin KH&CN Việt Nam (VISTA), Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam (VinaREN)
   - Nâng cấp và hiện đại hóa Hệ thống thông tin, thống kê KH&CN quốc gia. Tăng cường hợp tác, hội nhập quốc tế;
   Văn bản pháp quy trong hoạt động thông tin KH&CN
   Trong suốt quá trình phát triển, hoạt động thông tin, thống kê KH&CN ở nước ta luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo. Cho đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cụ thể hóa chính sách phát triển của hoạt động thông tin, thống kê KH&CN và gần đây nhất là những văn bản chỉ đạo, triển khai văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI. Sau đây là những văn bản quan trọng cơ bản:
   - Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 09/01/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, trong đó tại điểm 3 phần III đã chỉ rõ “Có biện pháp đẩy mạnh phát triển các hoạt động dịch vụ KH&CN, đặc biệt là dịch vụ thông tin, tư vấn, mô giới, đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; Phát triển và kiện toàn hệ thống các trung tâm thông tin KH&CN…”.
   - Nghị quyết số 175/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/01/2011 về phê duyệt Chiến lượt tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020 “Phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động dịch vụ KH&CN; tăng cường phát triển mạng lưới các tổ chức dịch vụ KH&CN. Tăng cường tác thống kê tiềm lực KH&CN…”.
   - Quyết định số 809/QĐ-BKHCN ngày 25/3/2011 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về Chương trình hành động của Bộ KH&CN triên khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 “Đẩy mạnh phát triển Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA), mở rộng kết nối Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam (VinaREN) tới 100% các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm trọng điểm, các trường đại học, các bệnh viện lớn, các trung tâm thông tin-thư viện quan trọng”.
   - Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2011-2015, xác định rõ một trong những nhiệm vụ chủ yếu về đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN “a) Tổ chức triển khai có hiệu quả pháp luật về KH&CN. Kiện toàn tổ chức quản lý nhà nước về KH&CN ở các Bộ, ngành và địa phương.
   -  Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020
   - Luật KH&CN năm 2013 được Quốc hội khóa 13 thông qua vào ngày 18/6/2013 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014 đã có một số quy định mới lien quan đến hoạt động thông tin KH&CN, như sau:
   + Khoản 3 Điều 27 (Thẩm quyền phê duyệt, ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN) quy định: “3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm gửi báo cáo về Bộ KH&CN về việc phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN để tổng hợp, đưa vào cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN.”
   + Điều 39 (Đăng ký, lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN) Luật KH&CN 2013 quy định: “1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước phải đăng ký, lưu giữ tại cơ quan thông tin KH&CN quốc gia và tại cơ quan có thẩm quyền của bộ, ngành, địa phương chủ quản.”
   + Điều 40 (Trách nhiệm tiếp nhận và tổ chức ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN) đã quy định các Bộ, ngành và địa phương chủ quản phải “định kỳ hằng năm gửi báo cáo kết quả ứng dụng về Bộ KH&CN.”
   + Khoản 2 Điều 66 (Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật để phát triển KH&CN) quy định: “2. Căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển KH&CN quốc gia, bộ KH&CN chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan liên quan xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của tổ chức KH&CN quan trọng; phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế; cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”.
   + Điều 68 (Xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, thống kê về KH&CN) quy định: “Nhà nước đầu tư xây dựng, khuyến khích tổ chức, cá nhân tài trợ cho việc xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia và thống kê KH&CN hiện đại nhằm bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về hoạt động KH&CN trong nước và trên thế giới.”
   + Khoản 8 điều 50 (Mục đích chi ngân sách nhà nước cho KH&CN) Luật KH&CN 2013 đã xác định chi cho thông tin, thống kê KH&CN thuộc mục chi của Ngân sách Nhà nước.
   - Ngày 18/02/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2014/NĐ-CP về hoạt động thông tin KH&CN có hiệu lực từ ngày 15/4/2014 được ban hành đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về hoạt động thông tin KH&CN, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thông tin KH&CN. Nghị định đã nêu chi tiết nội dung hoạt động thông tin KH&CN bao quát từ việc tạo lập và phát triển nguồn tin đến sử dụng, phổ biến và cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN nhằm phục vụ cho dự bán, hoạch định, chính sách, lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế-xã hội khác.
   - Thông tư số 14/2014TT-BKHCN ngày 11/6/2014 của Bộ trưởng Bộ KH&CN quy định về việc thu thập, đăng ký, lưu giữ và công bố thông tin về nhiệm vụ KH&CN. Nội dung Thông tư đã cụ thể hóa một chu trình thông tin hoàn chỉnh về tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành; hồ sơ, thủ tục, trình tự đăng ký, lưu giữ và báo cáo thông tin kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN; và công bố thông tin về nhiệm vụ KH&CN.
   - Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 “Thực hiện nghiêm túc việc công khai hóa việc đăng ký, triển khai thực hiện, kết quả và việc ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN, các phát minh sáng chế, đổi mới sáng tạo về KH&CN; xây dựng và đưa vào khai thác có hiệu quả các cơ sở dữ liệu quốc gia và của các Bộ, cơ quan, địa phương theo Nghị định về hoạt động thông tin KH&CN”.
   - Quyết định số 95/QĐ-BKHCN ngày 19/01/2015 của Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành chương trình hành động của Bộ KH&CN thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015.
   - Quyết định số 1318/QĐ-BKHCN ngày 05/6/2015 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2016-2020.
   - Triển khai thực hiện Quyết định số 1416/QĐ-BKHCN ngày 06/6/2013 của Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động Cục Thông tin KH&CN quốc gia. Quyết định này thay thế cho quyết định 116/QĐ-BKHCN ngày 20/01/2010 nói trên nhằm đáp ứng những yêu cầu về công tác thông tin, thư viện, thống kê KH&CN. Cục Thông tin KH&CN quốc gia được giao thêm chức năng giúp Bộ trưởng xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN.
   2. Mạng lưới thông tin KH&CN quốc gia
   Tổ chức Mạng lưới thông tin KH&CN Quốc gia
   Hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam đã có một bề dầy lịch sử phát triển trên 50 năm. Bắt đầu được hình thành từ cuối những năm 50, phát triển mạnh vào những năm 70 và kiện toàn vào những năm 80 của thế kỷ XX và đến nay hoạt động thông tin, thống kê KH&CN đã hình thành một mạng lưới thông tin KH&CN tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học.
   Hiện trạng tổ chức trước khi Nghị định số 11/2014/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN được ban hành
   - Độ phủ hoạt động thông tin, thư viên, thống kê KH&CN: được tính bằng sự hiện diện của tổ chức chuyên trách hoặc kiêm nhiệm hoạt động thông tin, thư viện, thống kê KH&CN tại cơ quan được khảo sát. Tổng hợp kết quả khảo sát độ phủ hoạt động thông tin, thư viện, thống kê KH&CN sẽ phản ánh “sức sống” hiện tại của hoạt động thông tin, thư viên, thống kê KH&CN tại các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu và trường đại học.
   - Tên gọi tổ chức: mạng lưới thông tin, thống kê KH&CN Việt Nam được xây dựng theo mô hình 4 cấp: Trung ương, Bộ, ngành, địa phương và cơ sở.
   + Cục Thông tin KH&CN quốc gia là cơ quan quản lý nhà nước về thông tin, thư viện và thống kê KH&CN.
   + 34 cơ quan thông tin KH&CN thuộc Bộ, ngành dưới 11 tên gọi khác nhau. Trong đó, một số tên gọi chiếm tỷ lệ cao như: Trung tâm Thông tin (24%); Trung tâm thông tin + tên lĩnh vực hoạt động (27%); Trung tâm Thông tin-Thư viện (12%).
   + Tại 63 Sở KH&CN, có 38 Trung tâm Thông tin (chiếm 60,3%) rất đa dạng về tên gọi. Trong đó, tên gọi Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN khá phổ biến do tác động của Thông tư liên tịch số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15/7/2003 của Bộ KH&CN và Bộ Nội vụ đã quy định thành lập Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN tại Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 15 Sở KH&CN có Phòng Thông tin (chiếm 23,8%) cũng theo các tên gọi khác nhau; 10 sở KH&CN chưa có đơn vị Thông tin KH&CN độc lập (chiếm 15,9%), đa số nhiệm vụ thông tin KH&CN được giao Phòng Quản lý chuyên ngành.
   + Khu vực trường đại học và viện nghiên cứu, đặc biệt là khu vực viện nghiên cứu, đa phần tổ chức thông tin mang tên là “Thư viện” đơn thuần, chiếm 84,5% ở viện nghiên cứu và 55, 5% ở trường học.
   Mạng lưới thống kê KH&CN cần được tích hợp trong mạng lưới thông tin KH&CN để bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả về phương pháp luận cũng như kỹ thuật nghiệp vụ về thống kê KH&CN. Nhiệm vụ này chủ yếu được triển khai ở khu vực bộ, ngành và khu vực địa phương. Khu vực địa phương triển khai tốt hơn, có 74,6% cơ quan thông tin được giao nhiệm vụ thống kê KH&CN còn ở khu vực bộ, ngành chỉ khoảng 16%. Tương tự như vậy với thực hiện nhiệm vụ đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN, ở địa phương có 52% Sở KH&CN thực hiện còn ở khu vực bộ, ngành chỉ có 8%.
   Hiện trạng tổ chức sau khi Nghị định số 11/2014NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN được ban hành
   Để đảm bảo sự phối hợp thống nhất về quản lý nhà nước và hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong toàn bộ mạng lưới thông tin, thống kê trên cả nước, có sự thống nhất ngành dọc các tổ chức thông tin, thống kê KH&CN từ trung ương đến địa phương, tại các Điều 26, 27, 28 của Nghị định số 11/2014/NĐ-CP đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, tính đến ngày 15/11/2014, đã có 30 bộ, ngành và 63tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đã chỉ định các đơn vị thực hiện tổ chức đầu mối thông tin KH&CN.
   Nguồn tin Hệ thống
   Nguồn tin-nguyên liệu cơ bản của hoạt động thông tin ngày càng được chú trọng lựa chọn, thu thập bổ sung một cách chủ động. Trong nhưng năm gần đây, hàng năm nhà nước đầu tư trên 1 triệu USD cho các cơ quan thông tin, thư viện để mua sách báo và các nguồn tin điện tử của nước ngoài. Đến nay trong toàn hệ thống đã tổ chức và quản lý nguồn tin KH&CN khá đồ sộ có hơn 2 triệu đầu sách; 6.000 tên tạp chí (mỗi năm được bổ sung them khoảng 1.500 tên); 20 triệu bản mô tả sáng chế phát minh; 200.000 tiêu chuẩn; 50.000 catalo công nghiệp; 4.000 bộ báo cáo địa chất, 4.000 báo cáo lâm nghiệp; 13.000 báo cáo kết quả nghiên cứu, luận án tiến sĩ; 20 triệu biểu ghi trên CD/ROM…
   Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng từ truyền thống tới hiện đại:
   - Ấn phẩm thông tin: Hiện tại, trong toàn hệ thống có gần 300 ấn phẩm thông tin định kỳ, trong đó có hàng chục ấn phẩm bằng tiếng Anh dùng để trao đổi quốc tế...
   - CSDL, ngân hàng dữ liệu: Trong hệ thống thông tin KH&CN quốc gia có tới trên 300 CSDL tư liệu và dữ kiện. Hầu hết đều là các CSDL nhỏ dùng để quản trị các kho tư liệu của cơ quan. Tuy nhiên, cũng có những CSDL lớn tới 500.000 biểu ghi như một số CSDL của Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia. Các CSDL bắt đầu được xây dựng từ cuối những năm 80 và phát triển mạnh vào những năm 90, chủ yếu được thiết kế theo CDS/ISIS, FOXPRO, ORACLE, ACCESS… Phổ biến nhất vẫn là các CSDL về sách, các bài báo, tài liệu hội thảo, hội nghị, luận văn, kết quả nghiên cứu, tiêu chuẩn, mô tả sáng chế, thiết bị và công nghệ, chuyên gia tư vấn.
   - Các bản tin điện tử: Là dạng sản phẩm mới của các cơ quan thông tin KH&CN. Sản phẩm này bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ năm 1995 và đặc biệt phát triển nhanh về số lượng cũng như chất lượng từ năm 1997, khi Việt Nam bắt đầu hòa nhập Internet. Hiện nay hầu hết các cơ quan thông tin trung ương, bộ/ngành, địa phương, thậm chí cả cở sở, điều xuất bản bản tin điện tử và vai trò của nó ngày càng tăng. Hầu hết các ấn phẩm thông tin KH&CN, ngoài bản in trên giấy điều có bản điện tử đưa lên mạng hoặc trên CD/ROM.
   - Các Website, các thư viện điện tử, các mạng thông tin phục vụ chuyên ngành: Việc áp dụng các công nghệ thông tin mới trong hoạt động thông tin KH&CN ngày càng được chú trọng và phát triển mạnh mẽ. Đến nay, hầu hết các cơ quan thông tin KH&CN ở trung ương, bộ/ngành và những thành phố lớn điều đã xây dựng Website về KH&CN; một số cơ quan đã tạo lập thư viện điện tử chuyên ngành. Đặc biệt, trong phạm vi hệ thống thông tin KH&CN quốc gia có: Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA); mạng thông tin KH&CN phục vụ vùng sâu, vùng xa; mạng thông tin KH&CN phục vụ doanh nghiệp; Chợ ảo về Công nghệ và Thiết bị Việt Nam… Những mạng này đã có nhiều đóng góp trong việc cung cấp thông tin KH&CN một cách kịp thời cho các đối tượng dùng tin.
   Ngọc Hân

 

Các tin khác
Xem tin theo ngày