Tìm kiếm nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá nâu (Scatophagus argus Linnaeus, 1766) ở khu vực đầm phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ngày cập nhật 08/02/2021

- Tổ chức chủ trì nhiệm vụ: Trường Đại học Nông Lâm

- Chủ nhiệm nhiệm vụ:  TS. Nguyễn Văn Huy

 - Người tham gia chính: ThS. Nguyễn Tử Minh; TS. Nguyễn Anh Tuấn; ThS. Nguyễn Khoa Huy Sơn; PGS.TS. Nguyễn Duy Quỳnh Trâm; ThS. Lê Minh Tuệ; ThS. Phạm Thị Phương Lan; ThS. Trần Vinh Phương; ThS. Trần Thị Thu Sương; ThS. Nguyễn Thị Thanh Thủy

- Mục tiêu của nhiệm vụ: Có được quy trình kỹ thuật, mô hình sản xuất giống cá Nâu (Scatophagus  argus Linaeus, 1766) phù hợp với điều kiện ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

-  Kết quả thực hiện:

 1. Cá Nâu tại Huế có mức độ đa dạng hơn về mặt kiểu gen haplotype so với cá Nâu thu tại Cà Mau. Ngược lại, chỉ số đa dạng Nucleotid của các cá Nâu tại Huế lại thấp hơn so với vùng Cà Mau. Gen COI được sử dụng trong báo cáo này đủ khả năng phân biệt nguồn gốc cá Nâu phân bố ở Thừa Thiên Huế.

2. Cá Nâu là loài ăn tạp, thành phần thức ăn chủ yếu là tảo silic và mùn bã hữu cơ với tần suất bắt gặp 100%. Độ no của cá Nâu thay đổi giảm dần theo giai đoạn phát triển tuyến sinh dục.

3. Mùa vụ sinh sản của cá Nâu ở Huế bắt đầu từ tháng 6 đến nửa đầu tháng 9; mùa đẻ rộ chính tập trung vào tháng 7 đến hết tháng 8 đối với cá cái, trong khi đó, cá đực thành thục từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 8. Tỷ lệ đực: cái của cá nâu trong quần đàn không có sự sai khác. Sức sinh sản tuyệt đối của cá Nâu thay đổi phụ thuộc vào kích thước cơ thể, trung bình khoảng 350 ngàn trứng/con; sức sinh sản tương đối dao động từ trong khoảng 950 – 1500 trứng/g.

4. Nuôi vỗ thành thục cá Nâu trong lồng trên đầm phá cho kết quả thành thục của cá bố mẹ tốt hơn nuôi trong ao và bể. Nuôi vỗ bằng thức ăn công nghiệp xen kẽ thức ăn tươi cho kết quả thành thục tốt hơn so với chỉ cho cá ăn thức ăn công nghiệp.

5. Kích thích cá Nâu sinh sản bằng kích dục tố LHRH-A2 ở liều lượng 70 µg/kg cá cái cho hiệu quả sinh sản tốt hơn so với các liều lượng khác và HCG.

6. Đối với cá Nâu, kích thích sinh sản tự nhiên trong bể chưa có hiệu quả; mà phải kích thích bằng tiêm kích dục tố.

7. Phương pháp thụ tinh nhân tạo trong sinh sản cá Nâu cho kết quả tốt hơn, trong khi thụ tinh tự nhiên không mang lại kết quả thụ tinh của trứng.

8. Ấp trứng cá Nâu ở độ mặn 28‰; nhiệt độ 28oC là tối ưu cho sự phát triển phân cắt của trứng, phát triển của phôi, tỷ lệ nở, giảm tỷ lệ dị hình của ấu trùng..

9. Ấu trùng cá Nâu từ giai đoạn cá bột lên cá hương cho ăn bằng rotifer làm giàu bằng tảo đơn bào hoặc Protein DHA Selco đạt kết quả tốt hơn so với rotifer không được làm giàu.

10. Sinh trưởng của cá Nâu giai đoạn giống sau20 ngày tuổi ương ở độ mặn từ 15-20‰ và cho ăn thức ăn sống (copepoda, Artemia) cao hơn so với thức ăn công nghiệp.

11. Bệnh ký sinh trùng (rận và đĩa cá) là bệnh phổ biến nhất đối với cá Nâu nuôi vỗ trong ao và trong bể giai đoạn nuôi vỗ. Tắm nước ngọt, thay nước thường xuyên là phương pháp phòng và trị bệnh tốt nhất cho cá bố mẹ.

- Thời gian thực hiện:  từ tháng 7/2018 đến 11/2020

- Kinh phí thực hiện: 1.075.000.000 đồng

 

Các tin khác
Xem tin theo ngày