Tìm kiếm tin tức
Nghiên cứu, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp bền vững phòng tránh nguy cơ sụt đất tại khu vực xã Phong Xuân, huyện Phong Điền
Ngày cập nhật 17/07/2021

Sáng ngày 17/7/2021, Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Hội nghị nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp bền vững phòng tránh nguy cơ sụt đất tại khu vực xã Phong Xuân, huyện Phong Điền” do Trường Đại học Khoa học chủ trì và TS Trần Hữu Tuyên làm chủ nhiệm đề tài. Đây là đề tài được thực hiện theo đặt hàng của UBND tỉnh, diện tích của khu vực nghiên cứu chung là 22,6 km2, trong đó phần diện tích nghiên cứu chính - vùng được dự đoán có nguy cơ cao, nơi tiến hành các hạng mục công tác đo đạc, khoan địa chất là 10,4 km2.

Mục tiêu của đề tài là làm rõ hiện trạng sụt đất tại khu vực xã Phong Xuân, huyện Phong Điền. Xác định nguyên nhân, khoanh vùng cảnh báo nguy cơ các khu vực có nguy cơ sụt đất. Có được những giải pháp cụ thể, khả thi, lâu dài và bền vững để phòng chống nguy cơ sụt đất khu vực nghiên cứu. đối tượng nghiên cứu là các thành tạo trầm tích ở khu vực xã Phong Xuân, huyện Phong Điền và mối liên quan với tai biến sụt lún mặt đất (sụt đất). Khu vực xã Phong Xuân có dạng thung lũng dạng địa hào được cấu tạo từ các thành tạo carbonat (đá vôi) được phủ một lớp mỏng lên bởi các thành tạo Đệ tứ. Theo kết quả điều tra xã hội học của đề tài, trong quá khứ, hiện tượng sụt đất ở khu vực này, gần như chưa được ghi nhận

Từ tháng 06/2014, hiện tượng sụt lún mặt đất với sự hình thành hàng loạt các hố sụt karst cũng đã xảy ra trên diện tích đất nông nghiệp gây nên hiện tượng mất nước. Tại thôn Xuân Điền Lộc, 57 hộ dân có đất sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng, với diện tích 11,8 ha. Hiện tượng sụt đất không ngừng mở rộng. Cuối năm 2018, các hố sụt đã bắt đầu xuất hiện trong các khu dân cư chủ yếu ở thôn Xuân Lộc. Mặc dù kích thước hố sụt không lớn, nhỏ hơn 0,6 m với số lượng khoảng 6 hố sụt và nhưng sự xuất hiện các hố sụt cạnh sát nhà dân đã gây tâm lý bất an của người dân địa phương.

TS Hồ Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ-Chủ tịch Hội đồng

Xã Phong Xuân, huyện Phong Điền là nằm ở vùng đồi núi phía Tây Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế. Trung tâm xã cách Thị trấn Phong Điền chừng 15 km. Phía Bắc giáp với xã Phong Thu, phía Nam giáp huyện A Lưới, phía Đông giáp với xã Phong Sơn, Phong An, phía tây giáp với xã Phong Mỹ. Toàn xã có tổng diện tích 156,67km2; có 11 thôn với 1.668 hộ, 6.525 nhân khẩu, kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp với quy mô nhỏ lẻ. Trải qua hơn 45 năm xây dựng và phát triển, nền kinh tế xã hội của xã Phong Xuân đã có những bước tiến vượt bậc. Với sự chung tay của các tầng lớp nhân dân, Phong Xuân đã thay đổi diện mạo hoàn toàn. Phong Xuân hôm nay thực sự đã “thay da đổi thịt”, 100% đường liên xã đã được bê tông hóa và nhựa hóa; 11,81/13,64km đường liên thôn và 14,79/18,52km đường ngõ xóm được bê tông hóa;18,9/29,35km trục đường chính nội đồng đã được bê tông hóa; hệ thống kênh mương được sửa sang. Tỷ lệ hộ nghèo hiện nay giảm còn 4,15%; thu nhập bình quân đầu người đạt 37 triệu đồng/năm. Hoạt động kinh tế chủ yếu thuộc lĩnh vực nông nghiệp với ngành nghề chính là cây lúa nước, hòa màu và trồng rừng. Các ngành công nghiệp gần như không có. Cơ sở công nghiệp lớn nhất là Công ty Cổ phần xi măng Đồng Lâm với hoạt động khai thác đá vôi, các phụ gia hoạt tính khác phục vụ cho sản xuất xi măng.

TS Trần Hữu Tuyên, Chủ nhiệm đề tài trình bày báo cáo tóm tắt kết quả của đề tài

Mỏ đá vôi xi măng Đồng Lâm thuộc thôn Cổ Xuân, xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mỏ có diện tích 90,5 ha (gồm 02 khu vực: khu vực 1 là 18ha; khu vực 2 là 72,5ha), thời gian khai thác 30 năm, trữ lượng được cấp phép: 49.959.788 tấn đá vôi, khia thác bằng phương pháp lộ thiên đến độ sâu - 30m. Công suất khai thác: 1.752.975 tấn đá vôi nguyên khai/năm.

Sụt đất trước hết là tai biến địa chất điển hình, vẫn xảy ra trong môi trường thuần túy tự nhiên, không có tác động con người. Tuy nhiên, khi hiện tượng sụt đất xảy ra với số lượng nhiều, qui mô lớn và trên diện rộng thì có liên quan trực tiếp đến tác động bất thường của tự nhiên hay hoạt động kinh tế - công trình của con người. Hiện tượng sụt đất tại khu vực Phong Xuân cũng thuộc diện như vậy.

So với một số nơi khác ở Thừa Thiên Huế, khu vực nghiên cứu xã Phong Xuân, huyện Phong Điền có các điều kiện địa hình - địa mạo, cấu trúc địa chất, kiến tạo hết sức thuận lợi cho sự phát triển các tai biến sụt, trượt đất liên quan đến thủy động lực dòng ngầm trên vùng trầm tích carbonat (karst). Đó là địa hình dạng thung lũng có cấu trúc địa chất dạng địa hào; tầng đá gốc cấu tạo chủ yếu đá vôi bị xâm thực, bào mòn, tạo nên các khe rãnh, hang hốc karst, đặc biệt các vùng có đứt gãy kiến tạo đi qua tạo thành dạng địa hình trũng thấp; lượng mưa lớn nhưng không đều giữa các năm và theo mùa.

PGS.TS Uông Đình Khanh và TS Nguyễn Ánh Dương-Ủy viên phản biện phát biểu trực tuyến tại điểm kết nối Hà Nội

Các ý kiến phát biểu của thành viên Hội đồng

Hiện tượng sụt đất ở khu vực Phong Xuân xảy ra do tổ hợp nhiều nguyên nhân khác nhau; có những nguyên nhân khách quan, chủ quan; có những nguyên nhân chính đóng vai trò làm nền và có cả những nguyên nhân đóng vai trò xúc tác, kích hoạt và thúc đẩy sự phát triển sụt đất. Về nguyên nhân khách quan, tình trạng sụt đất xây dựng còn do diện tích phân bố đá vôi nứt nẻ có hang kasrt ngầm làm tiền đề cho tai biến địa chất xảy ra khi có các kích hoạt như tháo khô moong khai thác, có rung chấn do nổ mìn. Mặc dù không phải là nguyên nhân chính, nhưng nguyên nhân chủ quan là hoạt động khai thác đá đóng vai trò xúc tác, đẩy nhanh quá trình sụt đất ở khu vực nghiên cứu. 

Về nguyên nhân khách quan: Đất đá bị karst hóa mạnh, có nhiều hang, khe rãnh, các đới dập vỡ trong cấu tạo tầng đá gốc, tầng phủ mỏng nằm trong khu vực có địa hình trũng thấp, đặc biệt các thấu kính đolomit có kích thức và mức độ nứt nẻ, karst lớn cắt ngang qua moong khai thác… đã làm cho khu vực rất nhạy cảm với các tai biến địa chất liên quan đến hoạt động karst. Đây là nguyên nhân có vai trò làm nền, môi trường cho quá trình sụt đất ở Phong Xuân. Tác động bất thường của thời tiết trong những năm gần đây như hạn hạn, ngập lụt là một trong những nguyên nhân khách quan, tăng cường hiện tượng sụt đất trong những năm hạn hán và mưa lũ lớn. Hiện tượng co ngót, hình thành các khe nứt trong tầng phủ trong những năm khô hạn 2014, 2015, 2019 và mưa lũ năm 2020 gia tăng hiện tượng sụt đất, loại hình sụt lún hoặc sụt xói trong khu vực.

Chủ tịch UBND huyện Phong Điền-Nguyễn Đình Bách phát biểu ý kiến 

Về nguyên nhân chủ quan: Hoạt động khai thác đá với các tác động đến hiện tượng sụt đất là rung chấn do nổ mìn và tháo khô moong khai thác. Tùy thuộc vào thời gian khai thác mà vai trò và mức độ tác động cuả chúng khác nhau. Không loại trừ nguyên nhân là đất đá nứt nẻ, karst hóa manh trên thấu kính dolomit dọc theo đứt gãy kiến tạo trên cánh đồng ngoài đê bao số 1, nhưng tác động rung chấn của hoạt động nổ mìn khai thác là yếu tố tác động chính, đóng vai trò xúc tác dẫn đến sự hình thành hàng loạt các hố sụt tại thôn Điền Lộc trong năm 2014, khi mới bắt đầu khai thác. Cùng với thời gian với những giải pháp giảm tác động của rung chấn do công ty CP xi măng Đồng Lâm thực hiện, tác động của nổ mìn đối với hiện tượng sụt đất khu vực nghiên cứu sẽ giảm dần. Nhưng cũng có thể, cường độ sẽ tăng trở lại khi vùng khai thác được mở rộng tại những vùng có điều kiện tương tự như Điền Lộc.

Đại diện Công ty Cổ phần xi măng Đồng Lâm phát biểu tại Hội nghị

Kết quả mô phỏng của đề tài ở các kịch bản tự nhiên, trước khi khai thác mỏ đá; kịch bản hiện tại và kịch bản tương lai cho thấy, hoạt động khai thác mỏ đã làm thay đổi sâu sắc chế độ thủy lực của nước ngầm khu vực dẫn đến sự hình thành phễu hạ thấp nước ngầm và sự tăng cao vận tốc dòng ngầm khu vực lân cận moong khai thác. Chính hoạt động xói ngầm do dòng chảy nước dưới đất lôi cuốn đất đá từ các hang hốc, khe rãnh karst đến moong khai thác khi tháo khô mỏ là yếu tố tác động chính đến sự hình thành quá trình sụt đất ở các thôn Quảng Lộc, Điền Lộc, Xuân Lộc. Sụt đất do xói ngầm diển ra chậm nhưng kéo dài theo thời gian và tăng dần theo qui mô khai thác với loại hình sụt trượt có kích thước lớn.

Đề tài đã đưa ra các giải pháp phòng tránh nguy cơ sụt đất khu vực nghiên cứu, các giải pháp phòng tránh sụt đất cần lồng ghép trong các giải pháp phòng tránh thiên tai địa phương, đặc biệt là các giải pháp hạn chế hiện tượng mất nước mặt và nước ngầm, nước chảy và moong khai thác và rung chấn. Theo đó các giải pháp phòng tránh sụt lún mặt đất gồm ba nhóm giải pháp chính: Nhóm giải pháp cảnh báo nguy cơ xảy ra sụt đất; Nhóm giải pháp công trình; Các giải pháp trước mắt. Trên nguyên tắc ưu tiêu “Phòng - Tránh - Chống” và phù hợp với điều kiện kinh tế - kỹ thuật địa phương, trong giai đoạn trước mắt, khu vực nghiên cứu nên tiến hành đồng bộ các giải pháp: cảnh báo nguy cơ sụt đất, không xây dựng công trình và bố trí khu dân cư trên các vùng có nguy cơ cao. Trong trường hợp thật sự cần thiết, mới tiến hành các giải pháp công trình như cứng hóa nền đất, khoan phụt các hang hốc karst. Không nên tiến hành các giải pháp phòng tránh sụt đất riêng lẻ mà cần lồng ghép phòng tránh nguy cơ sụt mất nước, rung chấn do nổ mìn vì đây là các yếu tố tiền đề dẫn đến hiện tượng sụt đất khu vực nghiên cứu. Cần có kế hoạch phòng tránh nguy cơ sụt đất, mất nước,… cần lồng ghép với kế hoạch phòng tránh thiên tai địa phương.

Nguyễn Khoa Diệu Hà
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy cập tổng 3.562.605
Truy cập hiện tại 2.563