Tìm kiếm tin tức
Nghiên cứu sức khỏe sinh sản phụ nữ
Ngày cập nhật 26/05/2017
Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong sàng lọc bệnh lý tiền sản giật-sản giật

Cụm công trình: Nghiên cứu sức khỏe sinh sản của phụ nữ gồm 2 công trình: (1) Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong sàng lọc bệnh lý tiền sản giật-sản giật và xây dựng phác đồ điều trị dự phòng; (2) Nghiên cứu tình hình nhiễm Human Papillomavirus (HPV) sinh dục và tổn thương cổ tử cung của phụ nữ tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất giải pháp phòng chống. Cụm công trình này do Trường Đại học Y Dược-Đại học Huế chủ trì thực hiện. Tác giả của cụm công trình là GS.TS Cao Ngọc Thành, PGS.TS Nguyễn Vũ Quốc Huy và 13 thành viên chính cùng tham gia thực hiện.

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong sàng lọc bệnh lý tiền sản giật-sản giật và xây dựng phác đồ điều trị dự phòng

Công trình này do GS.TS Cao Ngọc Thành làm chủ nhiệm. Kết quả của công trình là đã xây dựng quy trình dự báo tiền sản giật dựa trên một số đặc điểm lâm sàng, siêu âm doppler động mạch tử cung, HA động mạch, xét nghiệm PAPP-A huyết thanh và sinh học phân tử tại thời điểm 11-13 tuần thai kỳ. Đây là mô hình sàng lọc kết hợp được nghiên cứu áp dụng đầu tiên ở nước ta và có tính chất đón đầu trong mô hình tiếp cận chăm sóc tiền sản hiện đại.

Việc nghiên cứu các biến dị di truyền nhằm hiểu rõ và xác định các đối tượng mang các gene ứng viên cho nguy cơ xuất hiện và khả năng dự báo tiền sản giật. Qua nghiên cứu đã tìm hiểu liên quan đột biến G1691A và đa hình M235T với tiền sản giật. Khảo sát mối liên quan giữa SERPINE1 mRNA và FLT-1 mRNA, là biểu hiện của gene có nguồn gốc rau thai, với bệnh lý tiền sản giật và thiết lập được phương trình dự báo bệnh lý này. Đây là những nội dung nghiên cứu rất chuyên sâu và lần đầu tiên thực hiện nghiên cứu tại Việt Nam bằng các kỹ thuật tiên tiến.

Nghiên cứu tiếp cận điều trị dự phòng bệnh lý tiền sản giật ngay ở giai đoạn sớm trong thai kỳ trên nhóm đối tượng nguy cơ cao phát triển tiền sản giật xác định bằng mô hình phối hợp nhiều yếu tố dự báo. Đây là phác đồ đầu tiên được đưa ra dựa trên dữ liệu nghiên cứu chính thức trên quần thể thai phụ tại Việt Nam.

Theo nhóm tác giả đây là công trình nghiên cứu có tính chất đón đầu trong lĩnh vực với 3 nội dung chuyên sâu, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến hiện đại, lần đầu tiên thực hiện tại Việt Nam với cỡ mẫu nghiên cứu rất lớn và thực hiện trên quần thể người Việt Nam. Đồng thời, kết quả của công trình đã cung cấp nguồn dữ liệu khoa học tin cậy; là cơ sở để có thể áp dụng các phương pháp sàng lọc bệnh lý tiền sản giật và điều trị dự phòng.

Với kết quả đạt được, công trình này đã được hội đồng nghiệm thu cấp quốc gia đánh giá loại xuất sắc. Dữ liệu nghiên cứu của công trình được trình Bộ Y tế tham khảo để đưa vào Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho sàng lọc và dự phòng bệnh lý tiền sản giật.

Nghiên cứu tình hình nhiễm Human Papillomavirus (HPV) sinh dục và tổn thương cổ tử cung của phụ nữ tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất giải pháp phòng chống

Công trình này do PGS.TS Nguyễn Vũ Quốc Huy làm chủ nhiệm. Qua nghiên cứu trên 1.132 phụ nữ trong độ tuổi 15-49 từ 11 xã, phường và thị trấn thuộc huyện Nam Đông, Phú Vang và thành phố Huế, nhóm thực hiện đã đưa ra các kết luận sau: tỷ lệ nhiễm HPV tại cộng đồng ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản ở tỉnh Thừa Thiên Huế là 0,9%, tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị. Đa số các trường hợp nhiễm HPV nguy cơ cao gồm typ 16, 18, 33, 45, 52, 58 và thường nhiễm đơn typ. Phương pháp phù hợp để chẩn đoán nhiễm HPV là kỹ thuật chẩn đoán sinh học phân tử. Phương pháp tầm soát tổn thương cổ tử cung trong cộng đồng là xét nghiệm tế bào cổ tử cung và test VIA, với độ chính xác tương ứng là 69,9% và 63,4%. Nhóm tác giả cũng đề xuất một số giải pháp phòng chống nhiễm HPV sinh dục nữ cho người dân là: về các giải pháp không đặc hiệu gồm giữ gìn vệ sinh sinh dục, vệ sinh kinh nguyệt, duy trì quan hệ một vợ một chồng, tránh quan hệ tình dục phức tạp. Giải pháp đặc hiệu duy nhất để phòng chống nhiễm HPV là tiêm vaccin HPV.

Nhận xét về giá trị của công trình, PGS.TS Nguyễn Vũ Quốc Huy chủ nhiệm công trình cho biết: Kết quả của công trình là cơ sở phát triển hệ thống xét nghiệm tế bào học cổ tử cung đến tuyến huyện để đủ khả năng cung cấp dịch vụ đến tuyến cơ sở; tăng cường huấn luyện cho cán bộ y tế tuyến cơ sở về test VIA, khuyến cáo sử dụng test VIA để phát hiện tổn thương cổ tử cung ở bất kỳ tuyến y tế nào hoặc hoàn cảnh nào mà không thể làm xét nghiệm tế bào cổ tử cung khi khám phụ khoa; Tăng cường tỷ lệ sử dụng vaccin phòng HPV trong cộng đồng. Kết quả nghiên cứu đã đóng góp nguồn dữ liệu khoa học chuyên ngành quan trọng, tin cậy về tình hình nhiễm Human Papillomavirus (HPV) sinh dục và tổn thương cổ tử cung trong khu vực.

Công trình đã khẳng định về tính khả thi và giá trị của xét nghiệm Human Papillomavirus sinh dục các týp nguy cơ cao ở phụ nữ và đặc biệt là phương pháp VIA trong phát hiện các tổn thương cổ tử cung ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và các yếu tố liên quan tại Thừa Thiên Huế, từ đó đưa ra một số giải pháp phòng chống nhiễm HPV sinh dục nữ cho người dân và giúp triển khai ứng dụng rộng rãi phương pháp VIA để sàng lọc ung thư cổ tử cung tại tất cả các tuyến của hệ thống y tế, đặc biệt là ở tuyến huyện và xã, nơi điều kiện nguồn lực còn hạn chế.

Công trình này là cơ sở quan trọng để góp phần phát triển Kế hoạch hành động quốc gia về dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung giai đoạn 2016- 2025. Theo đó, chủ nhiệm công trình đã được Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em, Bộ Y tế mời làm người soạn thảo chính, đã được Bộ Y tế ban hành vào ngày 23/9/2016 và đã được triển khai đến 63 tỉnh thành trên toàn quốc trong quý IV/2016.

Phương Hiền
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy câp tổng 10.146.643
Truy câp hiện tại 57