Tìm kiếm tin tức
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xạ trị điều biến liều (IMRT) trong điều trị các ung thư đầu-cổ tại bệnh viện Trung ương Huế
Ngày cập nhật 18/03/2020

Đó là tên đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh do Bệnh viên Trung ương Huế chủ trì và TS.BS. Phạm Nguyên Tường làm chủ nhiệm vừa được nghiệm thu tại Hội đồng nghiệm thu Sở Khoa học và Công nghệ vào chiều ngày 17/3/2020.

Mục tiêu của đề tài là áp dụng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật xạ trị điều biến liều trong điều trị các ung thư đầu-cổ tại Bệnh viện Trung ương Huế. Đánh giá chất lượng và hiệu quả của kỹ thuật xạ trị điều biến liều trong điều trị các ung thư đầu-cổ tại Bệnh viện Trung ương Huế.

Ung thư đầu-cổ nói chung là nhóm bệnh ung thư thư phổ biến đứng thứ sáu trong ghi nhận ung thư toàn cầu. Mỗi năm có khoảng 650.000 ca mắc mới và 350.000 ca tử vong. Khoảng 90% ung thư đầu-cổ là loại ung thư biểu mô tế bào vảy,  xuất phát từ bề mặt các niêm mạc trong khu vực đầu-cổ. Các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất chính là thuốc lá và rượu. Kết hợp cả thuốc lá và rượu làm tăng khả năng ung thư. Bên cạnh đó, các yếu tố nguy cơ khác bao gồm nhiễm vi-rút HPV(Human Papilloma virus), nhiễm phóng xạ, phơi nhiễm bệnh nghề nghiệp, chế độ ăn uống và yếu tố di truyền. Phẫu thuật, xạ trị và hóa trị là ba phương pháp điều trị chủ yếu nhằm mục đích kiểm soát bệnh đối các ung thư biểu mô vảy đầu-cổ giai đoạn tiến triển (giai đoạn III,IV). Tuy nhiên, phẫu thuật thường bị giới hạn với những khối u lớn, xâm lấn. Trong tình huấn này, hóa – xạ trị đồng thời sẽ thay thế phẫu thuật nhằm mục đích bảo tồn cơ quan. Tiến bộ đáng kể trong điều trị ung thư biểu mô vảy đầu-cổ chính là phối hợp hóa trị và xạ trị, bao gồm hóa trị gây đáp ứng (trước điều trị tại chỗ), hóa – xạ trị đồng thời và hóa xạ trị bổ trợ (sau điều trị tại chỗ tại vùng). Mục tiêu của hóa trị gây đáp ứng là làm giảm thể tích khối u (hạ giai đoạn) và triệt tiêu các tổn thương di cắn. Vì thế mục tiêu đầu tiên của hóa-xạ trị đồng thời là tăng cường khả năng gây độc tế bào của xạ trị, hơn nữa nó cũng còn giúp triệt tiêu các tổn thương di căn vi thể. Tuy nhiên, để giảm thiểu độc tính, liều hóa trị trong hóa – xạ trị đồng thời thường thấp đủ để tác động lâm sàng lên các tổn thương vì di căn. Hóa – xạ trị đồng thời cũng được áp dụng bổ trợ  sau phẫu thuật nếu kết quả mô bệnh học không thuận lợi, có nguy cơ tái phát và mổ không triệt để vì mục đích bảo tồn cơ quan. Mục tiêu của hóa trị bổ trợ là triệt tiêu các tế bào ung thư di căn vì thế.

Qua nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xạ trị điều biến liều (IMRT) trong phát đồ hóa- xạ đồng thời điều trị 120 trường hợp ung thư biểu mô vảy đầu-cổ tại Bệnh viên Trung ương Huế, nhóm nghiên cứu đã rút ra nhứng kết luận sau: Áp dụng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật xạ trị điều biểu liều trong điều trị các ung thư đầu-cổ tại Bệnh viện Trung ương Huế. Qua tiến hành áp dụng quy trình thử nghiệm cho 30 bệnh nhân đầu tiên, nhóm nghiên cứu nhận thấy nảy sinh một số khó khăn, bất cập và đã nhanh chóng khắc phục để từng bước hoàn thiện quy trình, báo cáo cấp trên để được phê duyệt, từ đó áp dụng thường quy cho tất cả các bệnh nhân ung thư đầu-cổ khác. Sản phẩm đã được chấp thuận và xác nhận danh mục kỹ thuật mới tại cuộc họp của Hội đồng Khoa học – Công nghệ Bệnh viện Trung ương Huế ngày 02 tháng 8 năm 2017.

Đánh giá chất lượng và hiệu quả của kỹ thuật xạ trị điều biến liều trong điều trị các ung thư đầu – cổ tại Bệnh viên Trung ương Huế

Về đặc điểm bệnh nhân:

- Đối với ung thư vòm họng: Tỷ lệ nam:nữ là 3:1. Tuổi trung bình là 48,09±13,32 (19-77). 60,6% u xuất phát từ thành bên vòm họng, 81,8% là thể sủi, 81,8% là type 3-WHO. T2,T3,T4 lần lượt 66,7%, 18,1% và 6,1%.N1,N2,N3b lần lượt 30,3%, 60,6%, 6,1%. Giai đoạn IIB, III, IVB lần lượt là 27,3%, 57,6%, 9,1% và 6,1%.

- Đối với các ung thư đầu-cổ khác: Chủ yếu gặp ở nam giới (88,5%). Tuổi trung bình 57,9 ± 12,24 (28-81). Tỷ lệ các ung thư khoang miệng, họng miệng, hạ họng, thanh quản lần lượt là 29,9%, 25,3%, 28,7%, 16,1%. T3 chiếm 74,7%, Hạc cổ N1 và N2 chiếm 66,6%, 32,2% ở giai đoạn III và 41,5% ở giai đoạn IV>

Đánh giá đáp ứng điều trị (Theo tiêu chuẩn RECIST)

- Ung thư vòm họng: Tại u nguyên phát, đáp ứng hoàn toàn 87,9%, đáp ứng một phần 12,1%. Tại hạch cổ, đáp ứng hoàn toàn 84,4%, đáp ứng một phần 15,6%. Đáp ứng hoàn toàn chung cả u và hạch: 81,8%.

- Các ung thư đầu-cổ khác: Mức độ đáp ứng thấp hơn. Tại thời điểm kết thúc điều trị, đáp ứng chung tại cả u và hạch lần lượt là 85,1% và 93,2%. Có 14,9% các khối u và 6,8% hạch cổ không đáp ứng và tiến triển trong quá trình điều trị. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn tại u và hạch cổ tại các thời điểm 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng sau điều trị lần lượt là 44,9%-66,1%, 47,1%-62,7% và 44,8%-62,7%.

Đánh giá độc tính (theo RTOG và CTCAE 3.0)

- Độc tính cấp huyết học: Các tỷ lệ này lần lượt là: giảm huyết sắc tố 67,4%, giảm bạc cầu 30,8%, giảm bạc cầu hạt 21,7% và giảm tiểu cầu 9,2%. Không có độc tính cấp độ 3,4.

- Độc tính cấp trên chức năng gan ở độ 1 và độ 2 lần lượt là 3,3%, 3,3%. Không có độc tính độ 3,4. Không có độc tính cấp trên chức năng thận.

- Độc tính cấp viêm da, viêm niêm mạc miệng, khô miệng là độ 1 và độ 2; độ 3 chiếm tỷ lệ thấp ( viêm da đô 3:3,3% viêm mạc miệng độ 3: 6,6%), không có độ 4

Độc tính muộn:

-         Khô miệng độ 1, độ 2 và đồ 3 lần lượt là 75,8%, 18,3% và 5,8%.

-         Xơ hóa da chủ yếu ở độ 1 (97,1%). Không có độ 3, 4.

-         Khít hàm độ 1, độ 2 lần lượt là 31,6%, 4,2% không có độ 3,4. 64,2% các bệnh nhân không có khít hàm.

-         Có 4 trường hợp hoại từ xương hàm, chiếm 3,4%.

Các độc tính cấp và muộn là thấp so với kỹ thuật xạ trị 3DRT. Đây là ưu thế vượt trội của kỹ thuật xạ trị điều biến liều (IMRT).

Phan Trọng
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy cập tổng 2.465.810
Truy cập hiện tại 229