Tìm kiếm tin tức
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 6. 2018
Ngày cập nhật 20/02/2019

* Phóng sự ảnh: Xuôi dòng An Cựu (NC&PT).

* Nguyễn Quang  Trung  Tiến. Đi tìm diện mạo của một dòng sông cổ: Sông An Cựu.

TÓM TẮT

Sông An Cựu vốn dĩ là một dòng sông tự nhiên cổ xưa, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống Sông Hương trên địa bàn Thừa Thiên Huế từ trước Công nguyên. Do kiến tạo địa lý và thay đổi đột ngột về chế độ thủy văn nên nước chuyển dòng làm con sông bị giảm lưu lượng nước, bồi lấp, thu hẹp dần và đứt đoạn, đánh mất vai trò là nguồn cung cấp nước chính cho phá Hà Trung-đầm Cầu Hai và cửa biển Tư Hiền kể từ đầu thế kỷ XV. Hơn 400 năm sau, khi được nạo vét, kết nối khơi thông trở lại nhằm phục vụ việc tưới tiêu đồng ruộng và giao thông thủy nội địa quy mô nhỏ kể từ đầu thế kỷ XIX, nó lại bị nhận lầm là “con sông đào”. Cũng vì “chết” đi ngót nửa thiên niên kỷ rồi “sống lại” nhờ khơi vét, sự liền mạch hay nhất quán về tên gọi của dòng sông xưa cổ đã biến mất theo thời gian, thay vào đó là những địa danh đời sau, nơi có những đoạn sông chảy qua, được lấy làm tên sông, mỗi nơi một tên, tạo thành cả chuỗi 12 tên sông; nên dù đã được nhà nước thời Nguyễn đặt cho một cái tên chính thức và thống nhất toàn bộ dòng sông là Lợi Nông, đến nay dòng sông vẫn cứ mang nhiều tên, và mỗi người, mỗi nơi cứ gọi mỗi cách tùy theo địa phương hay nhận thức. Bài viết này nhằm thử phác họa lại diện mạo địa lý của dòng sông cổ có số phận ly kỳ và lắm tên đó.

* Lê Nguyễn Lưu, Nguyễn Công Trí. Những địa danh và di tích liên quan đến sông An Cựu ở khu vực Huế.

TÓM TẮT

Sông An Cựu, đoạn chảy qua thành phố Huế là địa bàn của nhiều ngôi làng cổ ra đời ngay từ thời người Việt mới vào khai phá vùng đất Thừa Thiên Huế. Trong quá trình đô thị hóa vùng Huế, làng xưa dần mất đi, nhường chỗ cho phố chợ, công sở, phủ đệ của các ông hoàng bà chúa, các cơ sở tôn giáo... Bài viết này đề cập một số địa danh và di tích gắn bó mật thiết với dòng sông An Cựu ở khu vực Huế. Đây đều là những địa danh quen thuộc với người dân xứ Huế và cả những người yêu Huế nhưng không phải ai cũng am hiểu tường tận.

* Nguyễn Quang  Trung  Tiến. Từ sông An Cựu đến sông Lợi Nông: Một điểm son trong công tác thủy lợi triều Nguyễn.   

TÓM TẮT

Trong số các con sông ở khu vực Huế và phụ cận, sông An Cựu có một lịch sử hình thành và phát triển hết sức đặc biệt, ngay cả tên gọi của dòng sông với 12 cái tên cũng là một hiện tượng vô cùng hy hữu. Không những thế, từ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị đến Tự Đức, các vua đầu triều Nguyễn thường xuyên thể hiện sự quan tâm chăm lo công tác thủy lợi và gắn bó mật thiết với con sông, cả trong sản xuất và sinh hoạt đời sống, suốt thời gian trị vì của mình.

Tâm huyết, công sức và sự gắn bó tinh thần với dòng sông An Cựu của 4 vị vua đầu triều Nguyễn là một điểm son trong công tác thủy lợi ở vùng kinh kỳ; nhưng đến năm 1885, kinh đô Huế thất thủ, chủ quyền độc lập dân tộc không còn, số phận của dòng sông An Cựu cũng bước sang một ngả rẽ khác.

Dưới chế độ thuộc địa, dù chính quyền Bảo hộ vẫn tiếp tục công việc chỉnh trang, đắp đập xây cống ngăn mặn..., dòng sông An Cựu vẫn bước vào thời kỳ suy thoái do không còn được ưu tiên quan tâm chăm nom ở tầm quốc gia như trước.

* Lê Nguyễn Lưu, Nguyễn Công Trí. Sông Lợi Nông và thơ ngự chế của vua Minh Mạng và Thiệu Trị.

TÓM TẮT

Bài viết giới thiệu một số bài thơ viết về sông Lợi Nông trích từ các tập Ngự chế thi của vua Minh Mạng và Thiệu Trị, đây là những tác phẩm chưa được dịch thuật và xuất bản. Ngoài mạch cảm hứng ca ngợi cảnh đẹp của con sông Lợi Nông, các bài thơ này còn bộc lộ rõ tư tưởng cần chính ái dân của các vị vua đầu triều Nguyễn, trong đó tinh thần “mẫn nông” (thương nhà nông) được đặt lên hàng đầu, vì nghề nông là thiết yếu bậc nhất đối với cuộc sống xã hội trong thời đại bấy giờ.

* Phan Đăng. Thơ của vua Tự Đức viết về sông Lợi Nông (An Cựu).

TÓM TẮT

Sông An Cựu không phải ngẫu nhiên mà được đổi tên thành sông Lợi Nông dưới thời Minh Mạng, điều đó cho thấy rõ cách nhìn nhận, trách nhiệm và tấm lòng của các vị vua nhà Nguyễn qua việc chăm lo đời sống của người dân, đó là việc khơi đào, nạo vét dòng sông vừa để cứu hạn, thoát lũ, vừa phát triển mạng lưới giao thông đường thủy, mặt khác còn tạo nên vẻ đẹp cho vùng đất kinh kỳ… Trên bình diện văn chương, các vị vua đầu triều Nguyễn đã xem sông Lợi Nông là một đề tài đầy cảm xúc cho nhà thơ, ở mỗi người, mỗi lúc khác nhau, cảm xúc ấy cũng được diễn đạt khác nhau. Bài viết này giới thiệu ba bài thơ của vua Tự Đức viết về sông Lợi Nông được tìm thấy trong Ngự chế thi nhị tập để góp phần minh chứng cho nhận định nói trên.

* Nguyễn Quang  Trung  Tiến. Chuyện những chiếc cầu trên sông An Cựu ở khu vực Huế trước năm 1945.

TÓM TẮT

Trên dòng sông An Cựu ở khu vực nội đô Huế có 6 chiếc cầu bắt qua sông, lần lượt theo thứ tự thời gian là cầu An Cựu, cầu Nam Giao, cầu Bến Ngự, cầu Ga, cầu Kho Rèn và cầu Phủ Cam. Trừ cầu An Cựu được xây dựng vào năm 1808 dưới thời vua Gia Long, 5 chiếc cầu còn lại đều được xây dựng dưới thời Pháp thuộc, trong khoảng thời gian từ 1897 đến 1924. Tất cả những chiếc cầu này đều được sửa chữa hoặc xây dựng lại trên vị trí cũ trong những năm sau này, tập trung chủ yếu vào những năm 2009-2012. Cầu mới xây chỉ khoảng trăm năm, và chúng đều gắn bó mật thiết với người dân Huế, nhưng hầu như không mấy ai hiểu rõ về lịch sử của những chiếc cầu này, ngay cả những thông tin từ sử liệu cũng rất phiến diện và hiếm hoi.

Từ những thông tin rời rạc và tản mạn trong các nguồn tư liệu, đặc biệt là tư liệu của người Pháp, tác giả bài viết cố gắng phác thảo lịch sử xây dựng 6 chiếc cầu trên sông An Cựu cùng những tình tiết liên quan đến cảnh quan đôi bờ trên một đoạn sông chỉ chừng 3 cây số trong lòng nội đô Huế, mới chỉ khoảng trăm năm mà tưởng như đã chìm vào dĩ vãng xa xôi.

* Lê Phú. Về sự cần thiết của cống Cửa Khâu trên sông An Cựu.

TÓM TẮT

Cống Cửa Khâu là công trình ngăn mặn, hạn chế lũ sớm và điều tiết nước phục vụ sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp cho các huyện thị vùng hạ lưu sông An Cựu. Công trình được hoàn thành và đưa vào sử dụng từ năm 1980. Tuy nhiên trong những năm gần đây, khi các công trình hồ chứa-thủy điện (Bình Điền, Hương Điền, Tả Trạch) và đập Thảo Long trên hệ thống Sông Hương đi vào hoạt động, vai trò của cống Cửa Khâu đã suy giảm, đặc biệt là chức năng chống nhiễm mặn từ Sông Hương vào sông An Cựu, do vậy, đã có nhiều ý kiến bàn về việc di dời hoặc tháo dỡ công trình này để trả lại sự thông thoáng cho dòng sông An Cựu.

Bài viết này tổng hợp ý kiến của các chuyên gia nhằm cung cấp thêm cứ liệu để xem xét việc nên hay không nên phá dỡ hoặc di dời cống Cửa Khâu trong thời điểm hiện tại.

* Đinh Văn. Phát triển tiềm năng du lịch đường thủy trên sông An Cựu.

TÓM TẮT                                                                               

Tại Thừa Thiên Huế, Sông Hương từ lâu đã trở thành một sản phẩm du lịch nổi tiếng. Nhiều du khách rất ấn tượng và thích thú khi được đi thuyền rồng ngược dòng Hương Giang tham quan các danh thắng và di tích, đêm về nghe ca Huế trên sông, ngắm thành phố huyền ảo khi màn đêm buông xuống và thưởng thức những món ăn nổi tiếng… Dẫu vậy, việc khai thác dòng sông này vẫn còn đơn lẻ, chưa kết hợp được với các cảnh quan sông nước khác, trong đó có sông An Cựu, một nhánh của Sông Hương chảy giữa lòng thành phố Huế rất đẹp và thơ mộng, nhưng đến nay vẫn còn trầm lắng và được khai thác du lịch đúng với tiềm năng vốn có.

Nếu dòng sông An Cựu được đánh thức bằng những chính sách phát triển, quy hoạch khoa học thì chắc hẳn sẽ thu hút du khách tìm đến với dòng sông “nắng đục mưa trong” độc đáo này. Bài viết phác thảo một số giải pháp nhằm phát triển du lịch đường thủy trên sông An Cựu, góp phần làm tăng sự hấp dẫn cho điểm đến cố đô Huế nói riêng cũng như cả nước nói chung.

* Nguyễn Quang  Trung  Tiến. Tản mạn về sông An Cựu qua cảm nhận của người châu Âu trước 1945.

TÓM TẮT

        Sông An Cựu và vùng đất ven con sông này ở Huế đã được người châu Âu biết đến từ thế kỷ XVII qua tên gọi sông Phủ Cam và làng Phủ Cam. Bài viết này tổng thuật những điều ghi chép, khảo tả về sông An Cựu của một số tác giả người Âu từng đến Huế xưa, qua đó giúp người đọc hôm nay hình dung được cảnh quan và những thay đổi của dòng sông “nắng đục mưa trong” trong quá trình đô thị hóa vùng Huế.

* Dutreuil de Rhins (Nguyễn Quang  Trung  Tiến dịch và chú giải). Từ đèo Hải Vân đến sông An Cựu - Huế năm 1876.

TÓM TẮT

Jules Léon Dutreuil de Rhins (1846-1894) là một sĩ quan hải quân Pháp, lại vừa là một nhà thám hiểm và nhà địa lý. Trong những năm 1876-1877, Dutreuil de Rhins sang Việt Nam và đến Huế làm thuyền trưởng chỉ huy tàu hơi nước Scorpion của hải quân triều Nguyễn, một trong năm chiếc tàu do Pháp trao tặng vua Tự Đức sau Hiệp ước Giáp Tuất (1874). Sau ngày rời khỏi Huế, Dutreuil de Rhins đã xuất bản cuốn Nhật ký hành trình về vương quốc An Nam và người An Nam (Le royaume d’Annam et les Annamites: journal de voyage), công bố những ghi chép về vùng đất và công việc ông đã làm tại Việt Nam, với rất nhiều chi tiết bổ ích cho việc nghiên cứu, tham khảo về địa lý, cảnh quan môi trường, văn hóa, xã hội và lịch sử Việt Nam thời cận đại.

Bài viết này trích dịch và chú giải đoạn khảo tả con đường bộ từ Đà Nẵng vượt đèo Hải Vân ra đến đầm Cầu Hai và con đường thủy từ đầm Cầu Hai theo dòng sông An Cựu đến Huế trong tác phẩm nói trên để giới thiệu cùng độc giả.

Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy câp tổng 10.146.595
Truy câp hiện tại 45