Tìm kiếm tin tức
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 2. 2018
Ngày cập nhật 30/07/2018

VĂN HÓA - LỊCH SỬ

* Trần Văn Chánh. Huỳnh Tịnh Của và Đại Nam Quấc âm tự vị.

TÓM TẮT

Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (Imprimerie Rey, CURIOL & Cie xuất bản, Sài Gòn, 1895-1896) là cuốn tự điển đơn ngữ tiếng Việt đúng nghĩa đầu tiên của Việt Nam, ra đời trong điều kiện câu văn Quốc ngữ còn đang tập tễnh đi vào sinh hoạt văn hóa một cách chưa hoàn toàn ổn định. Có thể xem đây là công trình quan trọng quy mô lớn, có tính tiên phong khai sáng và tập đại thành đầu tiên về tiếng Việt. Để làm rõ giá trị của công trình, tác giả đã đánh giá những mặt ưu điểm và hạn chế của cuốn tự điển này, có so sánh với những cuốn tự/ từ điển tiêu biểu ra đời sau nó để thấy được sự tiến hóa của các công trình từ điển học tại Việt Nam. Tiếp đó, tác giả tiến hành khảo sát về thể thức trình bày cùng các mặt nội dung cụ thể của công trình: Từ ngữ Việt cổ; Thành ngữ, tục ngữ; Từ ngữ cỏ cây chim thú; Tên người và tên đất; Những chữ có nguồn gốc ngoại lai; Cách viết chữ Nôm trong Đại Nam quấc âm tự vị. Cuối cùng là phần nhận định về những đóng góp của Huỳnh Tịnh Của đối với nền văn hóa nước nhà.

 * Huệ Khải. Giải thích một số từ Việt cổ trong kinh của Minh Lý đạo và Phật giáo Hòa Hảo.     

TÓM TẮT

Cũng như Cao Đài giáo, ra đời ở Nam Kỳ vào nửa đầu thế kỷ 20, Minh Lý đạo và Phật giáo Hòa Hảo được xem là tôn giáo bản địa hay nội sinh. Kinh điển của hai tôn giáo này đều duy trì một số từ Việt cổ. Bài viết này giải thích các từ cổ ấy.

 * Yoshikawa Kazuki. Giao thương nội địa giữa khu vực Đông Bắc Việt Nam và Quảng Tây - Trung Quốc vào nửa sau thế kỷ XVII.

TÓM TẮT

Vào thế kỷ XVIII, hoạt động thương mại giữa Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam, nhất là vùng Đông Bắc ngày càng phồn thịnh, đó là: Có tới hàng chục nghìn người Hoa tham gia vào việc khai mỏ ở miền núi phía Bắc Việt Nam; ở Lạng Sơn, phố Kỳ Lừa đã trở thành một phố chợ, bao gồm chợ và khu dân cư xung quanh nó. Ở giai đoạn trước đó (nửa sau thế kỷ XVII) là thời kỳ thương nhân Quảng Đông bắt đầu mở rộng hoạt động thương mại của họ sang tỉnh Quảng Tây dọc theo tuyến sông. Trong bối cảnh đó, phố Kỳ Lừa đã trở thành địa điểm trung gian giữa Thăng Long và Quảng Tây, đồng thời là nơi buôn bán các sản phẩm Việt Nam. Các hoạt động giao thương trên của người Hoa ở khu vực Đông Bắc Việt Nam đã đưa tới những ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội bản địa lúc bấy giờ.

Có thể nói, hoạt động giao thương giai đoạn nửa sau thế kỷ XVII là giai đoạn tiền đề, chuẩn bị cho sự phát triển thương mại phồn thịnh giữa Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam trong thế kỷ XVIII.

 * Trần Kỳ Phương, Rie Nakamura. Về mạng lưới giao thương miền ngược - miền xuôi ở Trung Bộ: Suy nghĩ lại "Mô hình trao đổi hàng hóa ven sông" của Bennet Bronson qua dẫn liệu khảo sát nhân học dân tộc ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

TÓM TẮT

Trong bài này các tác giả nhận định lại “mô hình mạng lưới trao đổi hàng hóa ven sông” dựa vào những tư liệu điền dã thu thập được tại chợ Tuần và huyện A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đó, chứng minh rằng các sắc tộc thiểu số sinh sống ở miền ngược tại vùng này đã từng thiết lập một mạng lưới trao đổi hàng hóa linh hoạt và rộng lớn bao gồm nhiều điểm tụ cư từ duyên hải miền Trung Việt Nam cho đến những vùng sâu xa (hinterland) ở Hạ Lào; chứ họ không nhất thiết lệ thuộc vào một trung tâm trao đổi nhất định nào tọa lập ven sông ở miền xuôi như Bennet Bronson từng giả định.

  BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

* Phan Thuận Thảo. Sự pha trộn tín ngưỡng trong Hò Bả trạo ở Nam Trung Bộ.

TÓM TẮT

Hò Bả trạo là hình thức diễn xướng chèo cạn dùng trong nghi lễ thờ cúng cá Ông của ngư dân vùng duyên hải Trung và Nam Bộ Việt Nam. Dù gắn liền với nghi lễ thờ cá Ông, nhưng Hò Bả trạo ở Nam Trung Bộ còn có sự hòa trộn của các tư tưởng, tín ngưỡng dân gian khác, đó là tư tưởng Phật giáo, quan niệm về thế giới cô hồn, tín ngưỡng thờ nữ thần. Đây là những tín ngưỡng phổ biến trong dân gian vùng Nam Trung Bộ, chúng tạo nên những dấu ấn đậm nhạt khác nhau ở từng địa phương cụ thể. Tất cả hòa quyện với nhau trong nghệ thuật diễn xướng nghi lễ dân gian Hò Bả trạo, thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người dân vùng duyên hải Nam Trung Bộ.

  KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG

* Trần Quốc Thắng, Nguyễn Thị Thu Hà, Lê Phước Bình. Một số vấn đề về việc triển khai ISO điện tử tại các cơ quan hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế.

TÓM TẮT

Bài viết trình bày kết quả của đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 trên môi trường mạng (gọi tắt là Hệ thống ISO điện tử) tại một số cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”. Đề tài đã thiết kế và xây dựng thành công Hệ thống ISO điện tử và ứng dụng thí điểm tại 4 cơ quan hành chính nhà nước. Từ kết quả thí điểm này, đề tài đã đánh giá các mặt ưu nhược điểm của hệ thống, đồng thời đề xuất các giải pháp khắc phục khó khăn khi triển khai Hệ thống ISO điện tử đồng bộ trên diện rộng ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

 * Đinh Văn, Lê Phú. Thực trạng phát triển nghề nấu dầu tràm ở Thừa Thiên Huế.

TÓM TẮT

Dầu tràm là một “biệt dược” truyền thống của Việt Nam với nhiều lợi ích trong chăm sóc sức khỏe cho con người. Tại Thừa Thiên Huế, nhờ điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp nên cây tràm gió (Melaleuca cajuputi Powell) có hàm lượng tinh dầu cao hơn so với các vùng khác trên cả nước, do đó nghề nấu dầu tràm ở đây phát triển khá mạnh và “tinh dầu tràm Huế” là một sản phẩm được tin dùng rộng rãi.

Bài viết khảo sát tình hình phát triển nghề nấu dầu tràm tại Thừa Thiên Huế hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm giữ gìn, bảo vệ và phát triển sản phẩm dầu tràm trở thành một thương hiệu mạnh của Thừa Thiên Huế.

 * Phóng sự ảnh: Quy trình chiết xuất tinh dầu tràm Huế.

ĐẤT  NƯỚC - NHÂN VẬT

* Nguyễn Thanh Lợi. Mạch nguồn văn hóa Bến Tre.

TÓM TẮT

Cư dân xứ cù lao Bến Tre đã mang theo trong hành trang của mình những hạt giống văn hóa từ vùng Ngũ Quảng khi đến khai phá nơi đây. Những truyền thống văn hóa cũ và mới đan xen, song hành qua quá trình tái tạo và sáng tạo để phù hợp với thổ ngơi mới, như tục thờ cá Ông, hát sắc bùa, thờ Thành Hoàng, hát lý, vè, truyện trạng, tuồng… Trong đó nổi bật lên sắc thái sông nước Tây Nam Bộ với những sáng tạo về văn hóa miệt vườn. Những mạch nguồn văn hóa dân gian ấy luôn không ngừng tuôn chảy, hòa điệu vào đời sống văn hóa đương đại trên quê hương Bến Tre ngày nay.

  TRAO ĐỔI

* Nguyễn Duy Chính. Quang Trung thật, Quang Trung giả: Bàn thêm về phái đoàn Đại Việt sang Trung Hoa năm Canh Tuất (1790).

TÓM TẮT

Trong thời gian gần đây, trên Internet và báo chí trong nước dấy lên nhiều cuộc tranh luận về người cầm đầu phái đoàn Đại Việt sang Trung Hoa năm Canh Tuất (1790). Việc cho rằng có một giả vương (đóng thay vua Quang Trung) sang Trung Hoa đã tồn tại từ lâu, qua nhiều thời kỳ, nhiều giả thuyết, và cho đến nay vẫn là một nghi án lịch sử.

Bài viết này điểm qua một số tư liệu đề cập đến chuyện Quang Trung thật, giả của cả Việt Nam lẫn Trung Quốc, qua đó cho thấy chuyện giả vương chỉ tồn tại trong những văn bản thứ cấp (Secondary sources) từ bên ngoài chứ không phải từ chính những người từng phục vụ trong triều đình Tây Sơn giao thiệp với nhà Thanh.

Cả triều đình nhà Thanh lẫn nhà Nguyễn đều có lý do riêng để tạo ấn tượng Nguyễn Huệ là kẻ trí trá, xảo quyệt qua vụ giả vương, từ đó nhằm hạ thấp uy tín của vua Quang Trung và triều đại Tây Sơn.

  TƯ LIỆU

* Đinh Khắc Thuân. Thư tịch Hán Nôm về Đinh Tiên Hoàng và nhà Đinh.

TÓM TẮT

Đinh Tiên Hoàng thiết lập nên nhà Đinh, thời đại nhà Đinh vào năm 968, tính đến nay vừa tròn 1050 năm. Thời đại này đánh dấu lần đầu tiên sau thời kỳ Bắc thuộc, người Việt có được một quốc gia độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, một nhà nước phong kiến tập quyền riêng và quân đội riêng.

Thư tịch Hán Nôm về vấn đề này không nhiều, song lại vô cùng quý giá, có thể xem là những tài liệu gốc quan trọng. Ở đây, chúng tôi hệ thống lại một cách đầy đủ hơn, đồng thời nhấn mạnh ở một số tư liệu tiêu biểu liên quan đến một số vấn đề nổi bật về Đinh Tiên Hoàng và nhà Đinh.

Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy câp tổng 10.147.543
Truy câp hiện tại 183