Tìm kiếm tin tức
Nghiên cứu, xác định nguyên nhân hiện tượng mất nước ao-hồ và sụt giảm tầng nước ngầm tại khu vực xã Phú Vinh và xã Hồng Thượng, huyện A Lưới
Ngày cập nhật 07/04/2021

Đó là tên đề tài khoa học và công nghệ do Trường Đại học Khoa học Huế chủ trì thực hiện và TS Nguyễn Thị Thủy làm chủ nhiệm đề tài vừa được Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức nghiệm thu vào chiều ngày 07/4/2021. Tham dự và chủ trì Hội nghị có TS Hồ Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ; các thành viên Hội đồng nghiệm thu đề tài; đại diện đơn vị chủ trì và các cơ quan, ban ngành có liên quan.

 

Trong khoảng 6 năm trở lại đây, theo phản ánh của người dân xã Phú Vinh, Hồng Thượng, mạch nước ngầm ở địa bàn bị sụt giảm nghiêm trọng khiến nhiều giếng trơ cạn đáy, nước mặt không có, ao hồ không có nước… Hàng chục hộ dân ở xã Phú Vinh và Hồng Thượng đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, nuôi trồng và sinh hoạt do mạch nước ngầm bị sụt thấp nghiêm trọng và mất nước bề mặt. Đến hiện nay, hiện tượng sụt mất nước khu vực Phú Vinh, Hồng Thương vẫn không suy giảm. Nhiều hộ dân ở 2 xã Phú Vinh, Hồng Thượng cũng đang bức xúc khi họ phản ánh rằng, dự án thủy điện đã gây tụt giảm mạch nước ngầm nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đời sống dân sinh. Chính vì thế, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho phép thực hiện đề tài đột xuất, cấp thiết địa phương “Nghiên cứu, xác định nguyên nhân hiện tượng mất nước ao – hồ và sụt giảm tầng nước ngầm tại khu vực xã Phú Vinh và xã Hồng Thượng, huyện A Lưới” và giao trực tiếp cho Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế thực hiện.

TS Hồ Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì Hội nghị

Mục tiêu của đề tài là xác định được nguyên nhân gây nên hiện tượng mất nước ao - hồ và sụt giảm tầng nước ngầm tại khu vực xã Phú Vinh, xã Hồng Thượng huyện A Lưới; đánh giá được tác động của hiện tượng mất nước ao - hồ và sụt giảm tầng nước ngầm; đề xuất các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội địa phương.

Đối tượng nghiên cứu là nước mặt và nước dưới đất, phạm vi nghiên cứu là khu vực xã Phú Vinh, Hồng Thượng, huyện A Lưới có diện tích 34,7km2, thuộc phần lưu vực sông A Sáp với trọng tâm là vùng đang xảy ra hiện tượng mất nước ao - hồ và sụt giảm tầng nước ngầm (gọi tắt là sụt mất nước).

Nội dung nghiên cứu bao gồm khảo sát hiện tượng mất nước ao hồ và sụt giảm tầng nước ngầm khu vực nghiên cứu và đánh giá tác động của hiện tượng này đến kinh tế-xã hội của địa phương. Nghiên cứu đánh giá mối liên hệ giữa các yếu tố tự nhiên của khu vực với hiện tượng mất nước ao hồ và sụt giảm tầng nước ngầm. Nghiên cứu, xác định các nguyên nhân gây mất nước ao hồ và sụt giảm tầng nước ngầm. Dự báo quy mô và xu hướng phát triển của hiện tượng mất nước và đề xuất các giải pháp phòng tránh.

Theo phản ánh của người dân các xã Phú Vinh và Hồng Thượng, trong khoảng 5 năm trở lại đây, mạch nước ngầm trên địa bàn bị sụt giảm nghiêm trọng khiến nhiều giếng trơ cạn đáy, nước mặt và ao hồ không có nước... ảnh hưởng đến sản xuất, nuôi trồng và sinh hoạt. Công tác khảo sát hiện trạng sụt mất nước đã được thực hiện sơ bộ vào tháng 04/2016, 07/2019 và chi tiết vào 01/2020. Thời điểm khảo sát tháng 01/2020 là giữa cuối mùa mưa nhưng nhìn chung mực nước giếng khảo sát tương đối hạ thấp so với những năm trước đây.

Quá trình khảo sát mực nước ngầm được thực hiện ở các giếng của 33 hộ gia đình thuộc hai xã Phú Vinh và Hồng Thượng, trong đó có 21 hộ ở Phú Vinh (chủ yếu ở thôn Phú Xuân), 12 hộ ở Hồng Thượng (ở các thôn Cân Tôm, Cân Sâm).

Quá trình khảo sát nước mặt được thực hiện ở 31 vị trí gồm khe suối, ao, hồ (bao gồm các hồ cá trước đây và nay đã chuyển sang trồng keo tràm) và các trũng canh tác lúa của người dân ở các xã Phú Vinh và Hồng Thượng. Dân cư hai xã Phú Vinh và Hồng Thượng sinh sống tập trung dọc quốc lộ và một số đường giao thông chính, diện tích canh tác lúa nước phân bố ở các trũng thấp giữa núi, ao nuôi cá chủ yếu là ao tự nhiên, được ngăn bờ giữ nước từ các khe lạch.

Tương tự kết quả điều tra nước ngầm, kết quả khảo sát nước mặt ở giữa cuối mùa mưa cũng cho thấy khu vực đang thiếu nước sản xuất khá nghiêm trọng. Diện tích mặt nước ở khu vực chiếm rất ít, các khe suối có nước nhưng nhìn chung nước chảy chậm, bề rộng lạch nước nhỏ hơn nhiều so với chiều rộng khe, nhiều khe chỉ còn đọng vài vũng nước nhỏ ở các phần đáy trũng thấp, phần còn lại cỏ mọc hoang. Theo người dân các thôn Phú Thành và Phú Xuân (xã Phú Vinh), khi nhà máy thủy điện A Lưới chưa hoạt động, các khe suối này luôn có nước kể cả mùa khô, nhưng mấy năm gần đây nhiều khe suối cạn khô nước kéo theo nước tưới tiêu cho các ruộng lúa và cấp nước cho ao hồ bị cạn kiệt.

TS Nguyễn Thị Thủy, chủ nhiệm đề tài trình bày tóm tắt kết quả đạt được của đề tài

Phần lớn các ao nuôi cá trên địa bàn là ao tự nhiên, do người dân ngăn bờ khe suối để giữ nước nuôi cá, nên chúng thường có dạng tuyến hoặc uốn cong, lượng nước nhìn chung vẫn đủ để nuôi cá hầu như quanh năm, nhưng số lượng các ao này không nhiều, và vào mùa khô mực nước cũng hạ thấp đáng kể, gồm một số hộ như gia đình ông/ bà Nguyễn Văn Châu, Phạm Nghiêm, Phan Thị Sen. Do nguồn cấp nước cho ao hồ là các khe suối, nên khi các khe này cạn nước thì nguồn nước mặt của ao hồ cũng suy giảm đáng kể, có hồ gần như cạn nước. Trong khi đó, một số hồ tự nhiên lại có nguồn nước dồi dào ở thời điểm khảo sát, chẳng hạn hồ nước thuộc thôn Phú Thành (Phú Vinh) nằm sát đường Hồ Chí Minh, có chiều dài khoảng 70-80m, rộng có nơi đến 50m, nước sâu 1-2m, bề mặt nước thấp hơn bề mặt đường 2.5-3.0 m, phía bắc của hồ này có một khe suối khô cạn hoàn toàn; hồ nước sát đường liên thôn ở Cân Tôm, rộng từ 15-20m đến 40-50m, dài 200-300m, nước rất phong phú, phía bắc của hồ là phần trũng thấp được người dân trồng lúa; hồ nước sau trường tiểu học Hồng Thượng cũng có nguồn nước rất dồi dào.

Trong khu vực còn có hồ A Co và kênh dẫn nước về nhà máy thủy điện. Hồ A Co chưa bao giờ khô cạn, trước đây được dùng cho sản xuất nông nghiệp, sau khi có hồ thủy điện khu vực này được đền bù nên người dân không còn trồng lúa nữa. Ở kênh dẫn nước thủy điện có hiện tượng nước thấm rỉ ra từ đê kênh nhưng rất nghèo dọc theo bờ kênh ở phần trên (tầng 2) và phần thấp gần sát mực nước (tầng 1) có các hệ thống ống thoát nước thấm từ taluy ra, tuy nhiên tại thời điểm khảo sát các ống nhựa này hoàn toàn khô, không có nước chảy.

Xác định nguyên nhân gây mất nước mặt và nước ngầm ở xã Phú Vinh và Hồng Thượng huyện A Lưới là vấn đề không đơn giản. Để đạt được mục tiêu đề tài, phương pháp loại trừ được đề tài sử dụng để xác định nguyên nhân chính gây ra hiện tượng mất nước mặt và ngầm ở khu vực nghiên cứu. Như vậy, sự suy giảm mực nước mặt - nước ngầm tại đây có thể xảy ra do các nguyên nhân chính sau: Sụt mất nước do khô hạn, Sụt mấtnước do gia tăng hệ số thấm dọc theo các đứt gãy do động đất, Sụt mất nước do thay đổi cấu trúc của tầng chứa nước, Sụt mất nước qua tuyến hầm.

Theo đơn vị chủ trì, có quá nhiều yếu tố tác động đến hiện tượng mất nước mặt và sụt giảm tầng nước ngầm như hạn hán, động đất, thay đổi cấu trúc tầng chứa nước do thi công kênh dẫn nước và tuyến hầm của Nhà máy thủy điện A Lưới. Kết quả nghiên cứu cũng chứng tỏ rằng, hiện tượng mất nước mặt xảy ra do suy giảm tầng nước ngầm, hạ thấp cao độ mực nước ngầm khu vực nghiên cứu.

Từ các kết quả ở trên có thể đánh giá, động đất gây sự hạ thấp mực nước ngầm rất thấp trên toàn khu vực nghiên cứu, xem như không đáng kể.Với giả thiết hạn hán xảy ra tương đương với năm 1982 - năm có lượng mưa nhỏ nhất trong chuỗi số liệu quan trắc 50 năm gần đây, làm mực nước ngầm giảm thấp đến 1,6m vào mùa khô, 6,2m vào mùa mưa và xảy ra rộng khắp.Điều nay không tương thích với hiện trạng: hiện tượng sụt mất nước chỉ xảy ra khu vực xã Phú Vinh và Hồng Thượng nên hạn hán không phải là nguyên nhân chính. Tuy nhiên, cũng cần nhắc lại rằng, năm 2012 năm nhà máy thủy điện A Lưới đi vào vận hành cũng là năm ít nước nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây. Sự thiếu hụt nguồn nước trong năm này cũng là nguyên nhân hổ trợ làm gia tăng cường độ hiện tượng sụt mất nước.

Như vậy, có thể thấy nguyên nhân gây ra hiện tượng sụt mất nước khu vực nghiên cứu là do thay đổi cấu trúc tầng chứa nước trong giai đoạn thi công cũng như vận hành sử dụng nhà máy thủy điện A Lưới. Việc thi công kênh dẫn đào sâu vào tầng chứa nước đã làm suy giảm mực nước ngầm dọc hai bên kênh dẫn nước dưới dạng một phễu hạ thấp với giá trị lên đến gần 20m với tự nhiên, khi chưa có công trình. Càng ra xa kênh dẫn nước thì sự hạ thấp mực nước ngầm càng giảm. Ngược lại sự dâng cao mực nước hồ chứa so với tự nhiên còn làm tại một số vùng trũng thấp, vùng hạ lưu suối, vùng ven sông,... có hiện tượng mực nước ngầm dâng cao, có liên quan đến sự tích nước hồ thủy điện A Lưới. Sự thiếu hụt nguồn nước từ mưa năm 2012 cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng mức độ khốc liệt do sự suy giảm nguồn nước khu vực trong những năm đầu khi công trình đi vào vận hành. Sự suy giảm mực nước ngầm tại đây kéo theo sự mất nước, cạn kiệt của các ao hồ nằm trong phạm vi của phễu hạ thấp.

Ngoài ra, sự suy giảm và mất nước mặt tại các suối nhánh cạnh đường Hồ Chí Minh khu vực Phú Vinh có liên quan đến đới hạ thấp mực nước ngầm ở phần thượng lưu lưu vực tại phía Đông khu vực nghiên cứu do sự tiêu thoát nước dưới đất qua tuyến hầm trong giai đoạn thi công. Theo thời gian khi thi công kết thúc, do sự bổ cập từ nước mưa, mực nước ngầm tại các lưu vực phía Đông khu vực sẽ hồi phục và sự mất nước tại các suối nhánh sẽ được loại trừ. Kết quả mô phỏng giai đoạn hiện tại năm 2011-2012 đã chứng minh cho nhận định trên.

Như vậy, hiện tượng sụt mất nước chủ yếu gây ra bởi tác động của thời tiết trong những năm ít nước và việc xây dựng tuyến kênh dẫn nước, gây ra những hệ lụy tương tự như hiện tượng hạn hán khu vực nghiên cứu. Vì vậy, các giải pháp giảm thiểu được đề xuất cần được lòng ghép trong kế hoạch phòng tránh hạn hán cũng như thiên tai của địa phương.

Nguyên tắc đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động của hiện tượng sụt mất nước khu vực nghiên cứu dựa trên những nguyên nhân, phạm vi phân bố và cường độ sụt giảm mực nước. Các giải pháp này được đề xuất chủ yếu dựa trên thực tế kinh nghiệm đã thu thập trong quá trình điều tra, khảo sát tại các địa bàn khu vực nghiên cứu, tổng hợp từ các địa phương khác, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện hiện có của địa phương.

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài,khu vực nghiên cứu có trên 50 ha đất ở nông thôn nằm trong vùng có nguy cơ sụt mất nước, trong đó có 0,8 ha nằm trong vùng có nguy cơ cao. Hiện tượng sụt giảm nước ngầm sẽ làm cạn kiệt nguồn nước giếng. Để đảm bảo nguồn nước sinh hoạt, cần có giải pháp cấp nước sạch, tự chảy cho người dân trong vùng. Giải pháp này đã được chính quyền địa phương thực hiện từ những năm 2012-2014 khi hiện tượng sụt mất nước bắt đầu xảy ra. Trong tương lai cần tăng cường biện pháp quản lý điều tiết các công trình nước sinh hoạt tập trung, thường xuyên kiểm tra hệ thống đầu mối, bể lắng lọc, đường ống.

Quy hoạch sử dụng đất, tránh quy hoạch các đất trồng lúa, đất mặt nước đất nuôi trồng thủy sản trên các vùng có nguy cơ sụt mất nước. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển loại hình cây trồng có khả năng chịu hạn cao. Đây là giải pháp cơ bản để giảm thiểu tác động của hiện tượng sụt mất nước ở đây. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với những diện thích thiếu nước; tăng cường sử dụng các giống cây trồng thích ứng với điều kiện hạn hán, thiếu nước. Chuyển đất nuôi trồng thủy sản, đất trồng lúa nước sang đất trồng cây hoa màu hoặc rừng sản xuất.

PGS.TS Nguyễn Thám, Ủy viên phản biện nhận xét kết quả thực hiện của đề tài

Cải tạo, nâng cấp các hồ chứa nước hiện có ở trên khu vực nghiên cứu bằng cách cao độ ngưỡng tràn, nạo vét lòng hồ chứa; xây dựng các hồ chứa mới ở các suối nhánh phía Đông đường Hồ Chí Minh.Tổ chức nạo vét, phát dọn kênh mương, khơi thông cống rãnh, dòng chảy, khắc phục ngay những chỗ hư hỏng, rò rỉ để chống thất thoát nước; dùng các biện pháp giữ nước, tích nước như: Dùng bao tải đất, phai gỗ nâng cao ngưỡng tràn xả lũ để sử dụng dung tích phòng lũ các hồ chứa... nâng cao năng lực tích nước của đầu mối; tăng cường công tác quản lý, điều tiết nguồn nước.

Chính quyền địa phương thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết, nguồn nước, nhận định sát tình hình hạn hán, thiếu nước; tập trung rà soát, kiểm kê nguồn nước trong các hồ chứa, cân đối để bố trí cơ cấu sản xuất, mùa vụ, thời điểm xuống giống lúa phù hợp, đảm bảo hạn chế tác động của sụt mất nước do hạn hán, thiếu nước ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.

Trong trường hợp thật sự cần thiết có thể tiến hành các giải pháp công trình như bổ cập nhân tạo nguồn nước ngầm, thi công các công trình chống thấm dọc hai bên kênh dẫn nhằm giải quyết hiện tượng thấm, suy giảm mực nước ngầm.

Các thành viên Hội đồng nghiệm thu phát biểu ý kiến

Tại Hội nghị, TS Hồ Thắng đánh giá rất cao tính công phu, toàn diện của đề tài. Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học và thực tiễn có độ tin cậy cao, là tài liệu tham khảo, chuyển giao cho các nhà hoạch định chiến lược quy hoạch, là cơ sở tham khảo giúp cộng đồng địa bàn nghiên cứu khắc phục giảm thiểu thiệt hại và thích ứng với hiện tượng sụt, mất nước ở hai xã Phú Vinh và Hồng Thượng (huyện A Lưới). Tuy nhiên, để đề tài đạt quả tốt nhất, TS Hồ Thắng và các thành viên Hội đồng đề nghị đơn vị chủ trì cần nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý của các thành viên Hội đồng để chỉnh sửa và hoàn thiện báo cáo. Trong đó đáng chú ý là cần khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu để đánh giá tác động của hiện tượng sụt, mất nước đến kinh tế và đời sống của cộng đồng cư dân khu vực nghiên cứu để có cơ sở thực tiễn.

Diệu Hà
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy cập tổng 3.047.001
Truy cập hiện tại 2.303