Tìm kiếm tin tức
Ứng dụng chế phẩm sinh học để khử mùi hôi chuồng trại và sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ chất thải chăn nuôi ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Ngày cập nhật 03/04/2021

Đó là tên dự án do Viện Nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ sinh học, thuộc Tập đoàn Quế Lâm và PGS.TS Phạm Thị Vượng làm chủ nhiệm vừa được nghiệm thu tại Sở Khoa học và Công nghệ vào sáng ngày 03/4/2021. Tham dự và chủ trì Hội nghị có TS Hồ Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, các thành viên Hội đồng nghiệm thu dự án, đại diện các sở, ban ngành liên quan và đơn vị chủ trì dự án.

Theo báo cáo tóm tắt dự án, chăn nuôi của tỉnh Thừa Thiên Huế đang có những dịch chuyển nhanh chóng từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại, công nghiệp; từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi quy mô lớn. Chăn nuôi gia súc, gia cầm theo quy mô gia trại, trang trại phát triển mạnh, toàn tỉnh có 1.234 gia trại, trang trại (tăng 23,15% so với cùng kỳ). Có 49 trang trại chăn nuôi (gồm có 1 trại bò, 35 trại lợn và 13 trại gia cầm) với doanh thu hàng năm từ 1 tỷ đồng trở lên. Đa số các trang trại chăn nuôi lợn và gà có quy mô vừa và lớn (trại lợn nái ngoại có quy mô từ 1.200 – 2.400 con, trại lợn thịt có quy mô từ 1000 - 8000 con) đều hợp tác, liên kết với các công ty: CP Việt Nam, Thái Việt Swine Line, Greenfeed…

Trong điều kiện hội nhập hiện nay, nông nghiệp Việt Nam muốn tiếp tục phát triển thì công cuộc tái cơ cấu theo hướng: (1) Một nền nông nghiệp thông minh, tùy đối tượng sản xuất, tùy vùng sản xuất, mục tiêu sản xuất mà ứng dụng công nghệ cho phù hợp. (2) Nông nghiệp đặc hữu, sản xuất những loại nông sản có tính khác biệt, người ta không có mà mình có. (3) Nông nghiệp hữu cơ. (4) Nông nghiệp chia sẻ, không ai bị bỏ lại phía sau. (5) Một nền Nông nghiệp tuần hoàn, không bỏ đi thứ gì.

Chính từ thực tiễn trên, Viện nghiên cứu và Ứng dụng công nghệ sinh học đã tiến hành thực hiện dự án “Ứng dụng chế phẩm sinh học để khử mùi hôi chuồng trại và sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ chất thải chăn nuôi ở tỉnh Thừa Thiên Huế”.

PGS.TS Phạm Thị Vượng trình bày báo cáo tóm tắt của dự án

Dự án được thực hiện với mục tiêu ứng dụng được chế phẩm sinh học để khử mùi hôi chuồng trại và sản xuất phân bón hữu cơ sinh học để trồng lúa, rau theo hướng hữu cơ. Theo đó, mục tiêu cụ thể là xây dựng được 02 mô hình sử dụng chế phẩm khử mùi hôi chuồng trại (gia trại và trang trại); Xây dựng được 01 mô hình sử dụng chế phẩm sinh học để sản xuất phân hữu cơ sinh học từ chất thải chăn nuôi; Thử nghiệm thành công 02 mô hình sản xuất lúa, rau theo hướng hữu cơ an toàn bằng việc sử dụng phân hữu cơ sinh học.

Theo chủ nhiệm dự án, trong quá trình thực hiện, đơn vị chủ trì đã đạt được những kết quả, cụ thể:

-  Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng xử lý phế thải chăn nuôi và tình hình ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi gây ra nói chung, chăn nuôi lợn nói riêng tại Thừa Thiên Huế.

Trên cơ sở điều tra tại các huyện (thị xã), các xã đại diện và tham vấn ý kiến các cán bộ quản lý tại địa phương, cán bộ thú y xã cho thấy hoạt động chăn nuôi lợn ở tỉnh Thừa Thiên Huế tương đối đa dạng về quy mô, đối tượng, trình độ thâm canh và phương thức chăn nuôi.

Kết quả điều tra cho thấy, thông tin sơ cấp được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 90 gia trại/hộ chăn nuôi lợn theo mẫu phiếu điều tra được lập sẵn tại xã Phú Lương, xã Phú Thượng huyện Phú Vang và xã Thủy Phù, xã Thủy Bằng Thị xã Hương Thủy. Có khoảng trên 60% số hộ của địa phương có chăn nuôi lợn, chăn nuôi từ 2-2,5 lứa/năm, với số đầu lợn trung bình là con/lứa, ít nhất là 3 con/lứa và nhiều nhất là con /lứa.

- Xây dựng mô hình sử dụng chế phẩm khử mùi hôi chuồng trại (gia trại và trang trại).

Hoàn thiện quy trình xây dựng mô hình sử dụng chế phẩm khử mùi hôi chuồng trại (gia trại và trang trại): Qua thí nghiệm cho thấy lượng nước dùng trong chăn nuôi lợn đã giảm đi đáng kể (chỉ dùng 20 lít/lần rửa chuồng/tuần cho 1đầu lợn. Nhưng mùi hôi chuồng chăn nuôi đã giảm đi rất đáng kể, chỉ còn mùi hôi nhẹ ở cả 3 công thức sử dụng chế phẩm 403 Alfa Lacto tỷ lệ từ 0,1 - 0,2 - 0,3%. Trong khi công thức ăn chăn nuôi đang thịnh hành hiện nay ngoài sản xuất, dùng nước rửa chuồng và tắm cho lợn gấp 7 lần (20lit/lợn/ngày) nhưng mùi hôi vẫn rất nặng. Dùng nhiều nước trong chăn nuôi lợn không những tăng chi phí, tốn tài nguyên nước mà còn làm gia tăng ô nhiễm môi trường, nhất là với các hộ chăn nuôi không có giải pháp quản lý chất thải lỏng trong chăn nuôi (như hầm biogas) sẽ xả thải thực tiếp ra môi trường kênh mương, sông suối... Chính điều này không chỉ gia tăng chi phí, tiêu tốn tài nguyên nước mà ảnh hưởng tới sức khỏe của cộng đồng, là con đường lây lan dịch bệnh khó kiểm soát như hiện nay, bệnh dịch tả lợn châu Phi.

Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm 403 Alfa Lacto tới năng suất nuôi và chất lượng thịt lợn: Trong thời gian nuôi là 120 ngày, lợn của tất cả thí nghiệm đều có tỷ lệ sống 100% cho tới khi thu hoạch. Tuy nhiên 3 công thức sử dụng chế phẩm 403 Alfa Lacto lợn khỏe trong suốt quá trình nuôi. Công thức 4 (Đ/C) nuôi theo PP hiện hành, đã bị bệnh tiêu chảy nên đã phải dùng thuốc chữa trị. Có thể thấy chế phẩm 403 Alfa Lacto đã hỗ trợ tiêu hóa tốt cho lợn nuôi, nhờ đó chúng không chỉ không bị bệnh tiêu chảy (một bệnh rất phổ biến giai đoạn lợn nhỏ) mà còn tăng hiệu quả sử dụng thức ăn tối đa nên khi phân và nước tiểu thải ra đã giảm mùi hôi tối đa. Thông qua đó, năng suất lợn nuôi đã đạt tăng trọng trung bình là 16,9 kg/tháng (CT1) và tăng 18,7kg/tháng (CT 2; CT 3) cao tương đương công thức đối chứng (CT4) là 18,6 kg/tháng (nuôi cám công nghiệp có sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi trừ bệnh ỉa chảy và sử dụng quá nhiều nước trong chăn nuôi).

Khi đánh giá về tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ thịt nạc cao mặc dù không sử dụng thức ăn công nghiệp, chất tạo nạc và các chất cấm trong chăn nuôi mà tỷ lệ nạc cao so với công thức đối chứng cho ăn thức ăn công nghiệp. Tỷ lệ thị móc hàm, thịt xẻ cao hơn thực hành của người chăn nuôi ở công thức 1 và 2, cao tương đương ở công thức 3. Trong khi đó tỷ lệ thịt nạc cao tương đương với công thức CT4 nuôi bằng cám công nghiệp. Điều đó chứng tỏ sử dụng 403 Alfa Lacto không chỉ quản lý môi trường chăn nuôi tốt, tăng trọng nhanh mà còn có tỷ lệ thịt xẻ cao và chất lượng thịt cao.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thí nghiệm sử dụng chế phẩm 403 Alfa Lacto với tỷ lệ khác nhau bổ xung vào thức ăn chăn nuôi lợn thịt đã cho thấy; giảm bệnh tiêu chảy giai đoạn lợn nhỏ, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn nên đã  giảm mùi hôi, tăng hiệu quả chăn nuôi và chất lượng thịt tăng lên rõ rệt. Sử dụng liều lượng 403 Alfa Lacto với tỷ lệ 0,2% bổ sung vào thức ăn cho lợn (thức ăn là 01-QL và 02-QL) có hiệu quả cao hơn cả: Tăng trọng trung bình: 18,7kg/tháng, tỷ lệ thịt xẻ cao và đạt hiệu cao cả về môi trường và kinh tế.

TS Hồ Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì Hội nghị

Thử nghiệm dùng chế phẩm QL rải nền chuồng, không dùng nước tắm lợn và rửa chuồng đã không chỉ quản lý được mùi hôi, giảm tối đa lượng nước sử dụng mà các chỉ tiêu về môi trường như BOD;COD;pH; Colifrom, tổng chất rắn lơ lửng.. đều đạt theo tiêu chuẩn môi trường đề ra. Kết quả của mô hình thử nhiệm cho thấy, ở các công thức thử nghiệm trong suốt 1 đời con lợn không sử dụng nước để tắm và rửa chuồng, giảm mùi hôi đáng kể, không xả chất thải chuồng trại ra môi trường, tận dụng được chất thải làm phân bón, tiến kiệm được công lao động, giảm chi phí điện nước. Còn đối với công thức đối chứng mỗi con lợn 1 ngày sử dụng hết ít nhất 20 lít nước trong suất đời con lợn tiêu tốn hết 2.400 lít nước, tận dụng được ít chất thải chăn nuôi, tất cả các chỉ số về môi trường trong lô đối chứng đều cao và chất thải chủ yếu xả trực tiếp ra môi trường, làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.  Bên cạnh mùi hôi thì các chỉ tiêu về môi trường như BOD; COD; pH; Colifrom; tổng chất rắn lơ lửng trong chất thải đã phân tích ở mức cao.

Sử dụng chế phẩm QL chưa ghi nhận có sự sai khác có ý nghĩa về năng suất và chất lượng thịt lợn so với đối chứng. Như vậy, công thức sử dụng chế phẩm QL rải  trên nền chuồng để quản lý môi trường chuồng nuôi lợn đã cho hiệu quả, giảm mùi hôi, giảm ô nhiễm môi trường rõ rệt. Cứ 2 tuần rải 1 lần trong suốt lứa nuôi (mỗi lần 1kg QL/30m2) không chỉ tiết kiệm được chi phí, tăng hiệu quả chăn nuôi.

- Xây dựng 02 mô hình sử dụng chế phẩm (403 Alfa Lacto và chế phẩm QL) khử mùi hôi chuồng trại (gia trại và trang trại).

Xây dựng 01 mô hình sử dụng chế phẩm (403 Alfa Lacto và chế phẩm QL) khử mùi hôi chuồng nuôi lợn quy mô gia trại: Kết quả phân tích nước thải từ mô hình trong dự án và đối chứng ngoài sản xuất cho thấy, chỉ tiêu BOD5 và COD trong mô hình đã giảm đi 3 lần so với chăn nuôi bằng nước phổ biến ngoài thực tế; Hàm lượng BOD5 trong mô hình chỉ là 3.280 mg/l, trong khi ở đối chứng cao tới 10. 200 mg/l; Hàm lượng COD trong mô hình là  5 .460 mg/l, trong khi ở đối chứng là 16. 400 mg/l. Về vi sinh vật gây bệnh như colifrom đã không ghi nhận trong phân rắn, còn trong phân rắn của lợn ở ô đối chứng cao tới 1 x 108 (cfu).

Kết quả của mô hình chăn nuôi sử dụng chế phẩm 403 Alfa Lacto và chế phẩm QL trên quy mô gia trại đã cho thấy tỷ lệ lợn sống đạt 100% cao hơn đối chứng 20% (đối chứng tỷ lệ sống chỉ đạt 80% )-Lợn chết do một số bệnh phổ biến hiện nay, chứ không phải do dịch tả lợn châu phi. Năng suất thịt của lợn (đánh giá ở 110 ngày sau nuôi) tăng trọng là 661,8 g/ngày cao hơn (40g/ngày/lợn) so với cách nuôi hiện hành chỉ đạt 621,8 g/ngày.

Qua thử nghiệm diện nhỏ và mô hình gia trại, mặc dù kết quả cho thấy chế phẩm vi sinh để khử mùi hôi trong cơ thể và trên chuồng trại đã có những tác động khá tích cực tới môi trường, nhưng chỉ rải chế phẩm QL trên nền chuồng nuôi (xi măng) thì vẫn chưa xử lý triệt để được chất thải lỏng (nước tiểu), vì thế nước tiểu vẫn chảy ra môi trường, thêm vào đó cứ 2 tuần phải thu gom phân lợn rắn 1 lần (nếu lợn ỉa tập trung) còn không thì vẫn phải thu dọn phân thường xuyên, chưa kể lợn hoạt động dẫm nằm lên phân rất mất vệ sinh. Để khắc phục những tồn tại này, dự án đã thực hiện nội dung nghiên cứu hoàn thiện quy trình bằng nguồn kinh phí của đơn vị chủ trì.

Một số chỉ tiêu năng suất, chất lượng thịt lợn của mô hình sử dụng 403 Alfa Lacto và chế phẩm QL bổ xung vào đệm lót sinh học trên quy mô gia trại: Kết quả phân tích các hóa chất và vi sinh vật gây bệnh trong cả 2 mẫu thịt mô hình dự án và đối chứng đều không  ghi nhận có (tetraxyclin; cloramphenicol); không tông dư kim loại nặng trong thịt và không chứa Dư lượng hooc môn (Dietylstylbestrol, Estadilol, Testosterol) và đặc biệt không bị nhiễm các vi sinh vật gây hại như (E.coli và Samonella).

Hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi lợn sử dụng chế phẩm vi sinh 403 Alfa Lacto và QL Quy mô gia trại (Hương Trà, Thừa Thiên Huế): Chăn nuôi trong mô hình sử dụng men vi sinh bổ sung vào thức ăn chăn nuôi, làm đệm lót sinh học đã bảo vệ môi trường tối đa ( Không mùi hôi, không nước thải) có mức tăng trọng tương đương với nuôi bằng cám công nghiệp, còn có chất lượng thịt cao. An toàn dịch bệnh. Hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn cao hơn 472.500 đ/con/lứa. Đầu ra rất ổn định (vì theo chuỗi, ổn định vật tư đầu vào và ổn định giá đầu ra).

Kết quả phân tích các chất cấm và vi sinh vật gây bệnh trong thịt lơn nuôi trong mô hình cho thấy tại bảng 13; Hàm lượng chất béo trong mẫu thịt của mô hình là (29,1g/kg) thấp hơn rất nhiều (-17,6 g/kg)  so với mẫu  thịt lợn ô đối chứng (46,7 g/kg).  Lợn nuôi theo phương pháp của dự án có tỷ lệ nạc cao hơn rất nhiều so với đối chứng mà không cần bổ sung bất cứ hóa chất cấm nào.

- Xây dựng 01 mô hình sử dụng chế phẩm (403 Alfa Lacto và chế phẩm QL) khử mùi hôi chuồng nuôi lợn quy mô trang trại.

Kết quả mô hình sử dụng chế phẩm (403 Alfa Lacto bổ xung vào thức ăn) và chế phẩm (QL rải trên nền chuồng): Kết quả phân tích nước thải chăn nuôi của mô hình trong dự án và đối chứng cho thấy, các chỉ tiêu về nước thải chăn nuôi như BOD5 và COD trong mô hình đã giảm đi nhiều lần so với chăn nuôi bằng nước phổ biến ngoài thực tế; Kết quả này cũng tương tự như mô hình trên gia trại, chỉ khác là quy mô chăn nuôi khác nhau.

Một số chỉ tiêu năng suất, chất lượng thịt trong mô hình chăn nuôi lợn sử dụng chế phẩm vi sinh quy mô trang trại: Kết quả của mô hình chăn nuôi sử dụng chế phẩm  403 Alfa Lacto và chế phẩm QL trên quy mô trang trại đã cho thấy tỷ lệ lợn sống đạt 100% cao hơn đối chứng 20% (đối chứng tỷ lệ sống chỉ đạt 80% )- Lợn chết do một số bệnh phổ biến hiện nay, chứ không phải do dịch tả lợn châu phi.  Năng suất thịt của lợn (đánh giá ở 110 ngày sau nuôi) tăng trọng là 703,3 g/ngày cao hơn (26g/ngày/lợn) so với cách nuôi hiện hành chỉ đạt 676,5 g/ngày. Chất lượng thịt lợn của mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh khử mùi hôi từ trong cơ thể lợn và trên chuồng nuôi quy mô trang trại đều tăng tương tự như mô hình quy mô gia trại.

Mô hình sử dụng chế phẩm (403 Alfa Lacto bổ xung vào thức ăn) và chế phẩm (QL bổ sung làm đệm lót sinh học) Quy mô trang trại: Ở mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh bổ sung vào thức ăn và đệm lót, không sử dụng nước để tắm và rửa chuồng, nhưng không có mùi hôi, không nước thải, không phải thu gom phân hàng tuần và chuồng trại rất sạch sẽ, tận dụng được chất thải làm phân bón gồm chất hữu cơ và các vi sinh vật có ích mật độ cao, tiết kiệm được công lao động, giảm chi phí điện nước.Bảo vệ nguồn tài nguyên nước. Quy mô càng lớn, hiệu quả chăn nuôi càng cao.

Còn chăn nuôi theo phương thức hiện hành vẫn sử dụng quá nhiều nước, mỗi con lợn 1 ngày sử dụng ít nhất 20 lít nước, trong suất đời con lợn tiêu tốn hết 2.400 lít nước, lượng nước ấy thải ra môi trường, mùi hôi nồng nặc, các chỉ tiêu về môi trường như  BOD; COD; pH; Colifrom; tổng chất rắn lơ lửng trong chất thải luôn ở mức cao, đến rất cao.

Hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi lợn sử dụng chế phẩm vi sinh quy mô trang trại (Phong Thu, Thừa Thiên Huế): Kết quả mô hình cho thấy chăn nuôi sử dụng chế phẩm vi sinh bổ sung vào thức ăn chăn nuôi, làm đệm lót sinh học và thức ăn từ nguyên liệu sẵn có tại Việt Nam, không hóa chất, kháng sinh bổ xung vào thức ăn. Đã bảo vệ tối đa môi trường chăn nuôi, không sử dụng nước tắm và rửa chuống. Không mùi hôi, không nước thải. Đã có mức tăng trọng tương đương với phương thức nuôi bằng cám công nghiệp, có chất lượng thịt rất cao, giá bán cao. Vì chăn nuôi theo chuỗi chủ động cả đầu vào và ổn định đầu ra nên hiệu quả kinh tế thu được cao hơn bên ngoài 340.000 đ/con/lứa.

- Xây dựng 01 mô hình sử dụng chế phẩm sinh học để sản xuất phân hữu cơ sinh học từ chất thải chăn nuôi.

Xây dựng mô hình sử dụng chế phẩm QL01 để sản xuất phân hữu cơ sinh học từ chất thải chăn nuôi có chất độn là phụ phẩm trồng trọt: Phụ phẩm thu được từ chăn nuôi là  5.500kg và từ trồng trọt là 7.700kg, bổ sung thêm 55kg vôi bột để khử vi sinh vật gây bệnh trong chất thải chăn nuôi. Dùng 26,5kg chế phẩm vi sinh QL01, 170 lít nước đủ đảm bảo độ ẩm cùa đống ủ từ 45-50%. Đã làm được hai đống ủ, sau thời gian 22 phân đã chín và thu được 4408 kg.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân bón hữu cơ sản xuất từ phụ phẩm chăn nuôi có chất độn là phụ phầm trồng trọt  và chế phẩm vi sinh Ql 01 đã đảm bảo đủ tiêu chuẩn phân bón hữu cơ sinh học (HCSH) theo các quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Xây dựng mô hình sử dụng chế phẩm QL01 để sản xuất phân hữu cơ sinh học từ chất thải chăn nuôi không có chất độn. Phụ phẩm thu được từ chăn nuôi là  7.800kg, bổ xung thêm 80 kg vôi bột để khử vi sinh vật gây bệnh trong chất thải chăn nuôi. Dùng 16 kg chế phẩm vi sinh QL01, 10 lít nước đủ đảm bảo độ ẩm cùa đống ủ từ 45-50%. Đã làm 01 đống ủ, sau thời gian 27 ngày phân đã chín và thu được 3.130kg. Sử dụng chế phẩm QL01 sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ phụ phẩm chăn nuôi không có chất độn thời gian kéo dài 27 ngày, chất lượng phân cao, đảm bảo đủ tiêu chuẩn phân bón hữu cơ sinh học (HCSH) theo các quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

- Thử nghiệm 02 mô hình sản xuất lúa, rau theo hướng hữu cơ an toàn bằng việc sử dụng phân hữu cơ sinh học.

Mô hình canh tác lúa Bắc thơm 7 theo hướng hữu cơ sử dụng phân bón hữu cơ sinh học (HCSH), được sản xuất bằng phế phụ phẩm thu gom từ mô hình chăn nuôi lợn, có sử dụng chế phẩm sinh học để khử mùi hôi chuồng trại của dự án ở tỉnh Thừa Thiên - Huế. Phân bón HCSH sản xuất ra đã được phân tích chất lượng tại phòng thí nghiệm).

Khảo sát đánh giá sự phát sinh phát triển và mức độ tác hại của số sâu bệnh chính hại lúa Bắc thơm 7, tại mô hình canh tác theo hướng hữu cơ, vụ Hè-Thu 2019, đã ghi nhận: Cả mô hình canh tác lúa hữu cơ và đối chứng đều xuất hiện các loại sâu bệnh quan trọng hại lúa như: Rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, bệnh khô vằn và lem lép hạt lúa. Tuy nhiên, trên ruộng mô hình các loại sâu bệnh hại này đều có xu hướng xuất hiện vào giai đoạn muộn hơn so với ở ruộng lúa canh tác bình thường của dân (đối chứng) khoảng 10 – 15 ngày, mật độ sâu hại và mức độ hại của sâu và bệnh hại đều thấp hơn rõ rệt ở tất cả các lần điều tra so với đối chứng. Cũng vì lý do này ở ruộng mô hình chỉ sử dụng một lần thuốc trừ sâu sinh học đã phát huy được hiệu quả phòng trừ, nên cả rầy nâu và sâu cuốn lá nhỏ có mật độ thấp, không gây thiệt hại cho năng suất lúa.

Năng suất lúa của mô hình canh tác theo hướng hữu cơ cao hơn không đáng kể so với năng suất sản xuất đại trà (0,15 tấn/ha), tuy nhiên do giá bán lúa của mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ cao hơn giá bán lúa bình thường nên thu nhập của người sản xuất tăng thêm 2.778.000đ/kg so với đối chứng,  hiệu quả kinh tế tăng 13,3%. Giảm tối đa sử dụng thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu bệnh hóa học trong sản xuất. Kết quả này cùng phù hợp như các khảo nghiệm đánh giá tại một số địa phương về phân bón hữu cơ của Tập đoàn Quế Lâm.

- Thử nghiệm 01 mô hình sản xuất rau theo hướng hữu cơ an toàn bằng việc sử dụng phân hữu cơ sinh học.

Kết quả theo dõi trên ô thí nghiệm cải bắp canh tác theo hướng hữu cơ đều ghi nhận có 03 loài sâu (Bọ nhảy, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng) và 03 loài bệnh hại (sương mai, thối nhũn và thối hạch) tuy nhiên mức độ phổ biến của các loài ở mức thấp. Về số loài thiên đich phổ biến trên rau cải bắp vụ Đông, năm 2019, tại Huế cho thấy, ở ruộng mô hình thiên địch xuất hiện tương đối phong phú với 8 loài thuộc 5 bộ (Araneida, Coleoptera, Dermaptera, Diptera, Hymenoptera) và 6 họ, trong đó bộ Coleoptera xuất hiện nhiều nhất với 4 loài thiên địch, đặc biệt là loài kiến 3 khoang xuất hiện nhiều nhất với độ bắt gặp trung bình. Ruộng đối chứng cho thấy sự khác biệt rõ ràng, thành phần các loài thiên địch xuất hiện ít hơn chỉ có 4 loài thuộc 3 bộ và 4 họ, mức độ xuất hiện của 4 loài với độ bắt gặp từ thấp đến rất thấp.

Năng suất, chất lượng của cải bắp thể hiện ở độ to, độ chặt của bắp cuốn. Trước tiên chúng tôi so sánh độ to của bắp cuốn được thể hiện tại bảng 41 cho thấy; đường kính bắp cuốn ở thời kỳ đầu tại CT1 to hơn dùng phân hữu cơ sinh học CT2. Nhưng đến giai đoạn cuốn chặt thì cả hai công thức có đường kính bắp tương đối như nhau. Xong về giai đoạn cuối, đường kính bắp của thí nghiệm canh tác theo hướng hữu cơ lại cao nhất là 22,3cm còn ở thí nghiệm canh tác bằng phân hóa học thấp hơn đạt 21,9cm.

Theo dõi tỷ trọng thương phẩm của trong và ngoài mô hình tương nhau, tỷ lệ thương phẩm của bắp cải trong mô hình cao hơn so với đối chứng không nhiều chỉ 0,8%. Tính tóan năng suất thực thu của cây bắp cải trong và ngoài mô hình cho thấy năng suất thực thu ở mô hình cao hơn so với ngoài mô hình. Năng suất cây bắp cải của mô hình lên đến 30,64 tấn/ha còn năng suất so với đối chứng đạt 29,65 tấn/ha. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của thí nghiệm canh tác theo hướng hữu cơ lần lượt là 34,36 tấn/ha, 30,64 tấn/ha, còn canh tác hóa học có năng suất lý thuyết và năng suất thực thu lần lượt là 33,55 tấn/ha và 29,65 tấn/ha. Đây là vụ đầu tiên trồng cải bắp tại Huế, nhưng năng suất này thấp hơn  nhiều so với các vùng trồng rau ở Miền Bắc thường trên 40 tấn/ha.

Như vậy, trong canh tác rau bắp cải theo hướng hữu cơ có sủ dụng phân bón hữu cơ từ đệm lót sinh học của trang trại lợn tăng tỷ lệ cuốn, tăng khối lượng của cây, tăng năng suất và sản lượng của cây bắp cải.

Các thành viên Hội đồng nghiệm thu dự án phát biểu ý kiến

- Tổ chức lớp tập huấn quy trình sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi và làm phân bón hữu cơ, sản xuất lúa, rau  hữu cơ.

Tập huấn kỹ thuật chăn nuôi lợn bằng chế phẩm sinh học giảm mùi hôi: Địa điểm: HTX Phù Bài, xã Thủy Phù, thị xã Hương Thủy Số người: 30 lượt người. Tập huấn kỹ thuật sử dụng chế phẩm QL01 sản xuất phân bón hữu cơ sinh học và áp dụng sản xuất lúa, rau hữu cơ theo chuỗi.Địa điểm: Tập huấn tại HTX nông nghiệp Phú Lương I - xã Phú Lương - Huyện Phú Vang Số người: 30 lượt người.

Như vậy, trong quá trình nghiên cứu, dự án đã hoàn thành các sản phẩm sau theo yêu cầu của Sở Khoa học và Công nghệ, cụ thể là dự án đã hoàn thiện xong 6 nội dung và 11 sản phẩm theo hợp đồng đã được phê duyệt và đã đăng tải 01 bài báo trên tạp chí chuyên ngành. Qua kết quả điều tra cho thấy có khoảng trên 60% số hộ của địa phương có chăn nuôi lợn, chăn nuôi từ 2-2,5 lứa/năm, với số đầu lợn trung bình là con/lứa, ít nhất là 3 con/lứa và nhiều nhất là con /lứa. Nguồn cung giống lợn để nuôi lợn chủ yếu là tự túc con giống chiếm 53,63% số cơ sở chăn nuôi, số lượng giống mua ngoài chiếm 46,4%, trong đó mua từ các cơ sở chăn nuôi khác chiếm 23,6%, mua từ trại lợn giống chiếm 7,0%, mua từ thương lái 15,8%.

Thí nghiệm sử dụng chế phẩm 403 Alfa Lacto với tỷ lệ khác nhau bổ xung vào thức ăn chăn nuôi lợn thịt đã cho thấy; đã giảm bệnh tiêu chảy giai đoạn lợn nhỏ, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn nên đã  giảm mùi hôi, tăng hiệu quả chăn nuôi và chất lượng thịt tăng lên rõ rệt. Sử dụng liều lượng 403 Alfa Lacto với tỷ lệ 0,2% bổ sung vào thức ăn cho lợn (thức ăn là QL.CN) có hiệu quả cao hơn cả: Tăng trọng trung bình: 18,7kg/tháng, tỷ lệ thịt xẻ cao và đạt hiệu cao cả về môi trường và kinh tế.

Mô hình canh tác theo hướng hữu cơ cho năng suất cao tương đương canh tác hóa học, do giá cao nên hiệu quả kinh tế đã cao hơn là 13,3%. Tính chất đất trong mô hình canh tác theo hướng hữu cơ đã được cải thiện rõ rệt, thành phần thiên địch có xu hướng cao hơn và chất lượng gạo được nâng cao và không tồn dư hóa chất.

Mô hình canh tác rau cải bắp theo hướng hữu cơ, sử dụng 100% phân bón HCSH sản xuất từ phụ phẩm chăn nuôi bón cho rau và làm cỏ bằng tay, đã hạn chế sự phát sinh và mật độ nhiều loại sâu bệnh, nên chỉ phải dùng 02 lần thuốc sinh học/vụ, phòng trừ sâu tơ, bọ nhảy và sâu xanh bớm trắng. Trong khi canh tác hóa học đã phải phun tới 4 lần thuốc BVTV hóa học (2 lần trừ sâu và 2 lần trừ bệnh), nhưng mức độ phổ biến của các loài sâu bệnh này trên đồng rau canh tác bằng hóa chất vẫn cao. Mô hình canh tác theo hướng hữu cơ cho năng suất cao hơn so với canh tác bằng phân bón và thuốc trừ sâu hóa học. Tính chất đất trong mô hình canh tác theo hướng hữu cơ đã được cải thiện rõ rệt, thành phần thiên địch có xu hướng cao hơn.

Tại Hội nghiệm thu, đơn vị chủ trì đã có đề nghị là cần nhân rộng các mô hình dự án và kéo dài thêm thời gian triển khai để xây dựng các mô hình chăn nuôi, trồng trọt hữu cơ phục vụ cho người dân và khách du lịch trong tỉnh theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 18 BCH Đảng bộ tỉnh khóa XV về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và những năm tiếp theo.

Kết thúc Hội nghị, TS Hồ Thắng đề nghị đơn vị chủ trì tiếp thu những ý kiến đóng góp của các thành viên Hội đồng để chỉnh sửa, hoàn thiện báo cáo tổng kết của dự án theo quy định. Để kết quả nghiên cứu được áp dụng và đi sâu vào thực tiễn, sau khi đơn vị chủ trì nộp toàn bộ sản phẩm chính thức của đề tài, Sở Khoa học và Công nghệ sẽ báo cáo UBND tỉnh những kết quả nghiên cứu đạt được và phương hướng để phát triển đề tài cho thời gian sau này.

Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy cập tổng 3.047.001
Truy cập hiện tại 2.306