Tìm kiếm tin tức
Quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với các đặc sản địa phương
Ngày cập nhật 06/02/2018
Logo nhãn hiệu tập thể thanh trà Huế-Hương Vân

Xuất phát từ chất lượng đặc thù và các tính chất mang đặc trưng văn hóa, lịch sử của vùng, miền nên các sản phẩm đặc sản thường được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ dưới các hình thức chỉ dẫn địa lý (CDĐL), nhãn hiệu tập thể (NHTT) hoặc nhãn hiệu chứng nhận (NHCN). Để quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với các đặc sản phát huy giá trị thực tế, nâng cao giá trị sản phẩm, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân thì cần phải có các biện pháp quản lý và khai thác, phát triển các quyền đó một cách khoa học và hợp lý.

Việc quản lý quyền SHTT đối với các đặc sản địa phương bao gồm việc xác định các cơ quan, tổ chức tham gia quản lý, xây dựng hệ thống các văn bản, công cụ làm cơ sở cho việc quản lý và tổ chức các hoạt động quản lý. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu các nội dung cơ bản về quản lý và khai thác quyền SHTT đối với CDĐL, NHTT, NHCN của các đặc sản địa phương.

1. Quản lý CDĐL

1.1. Các cơ quan tham gia quản lý

Cơ quan quản lý CDĐL: là cơ quan do UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có vùng địa lý tương ứng với CDĐL xác định và trao quyền quản lý. Cơ quan này có thể là: Sở KH&CN hoặc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; UBND cấp huyện.

Cùng tham gia với cơ quan quản lý có cơ quan kiểm soát chất lượng: có chức năng quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, giúp cơ quan quản lý CDĐL kiểm soát việc sử dụng CDĐL của các thành viên của tổ chức tập thể và các tổ chức, cá nhân khác. Cơ quan kiểm soát chất lượng có thể giao cho một đơn vị trực thuộc Sở KH&CN (Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường và Chất lượng hoặc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN) hoặc đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Trung tâm Khuyến nông...).

Tổ chức tập thể: là tổ chức do các nhà sản xuất, kinh doanh sản phẩm mang CDĐL tự nguyện thành lập và tham gia theo quy định của pháp luật. Tổ chức tập thể này có thể được thành lập dưới hình thức là hợp tác xã, hội hoặc nhóm các nhà sản xuất.

1.2. Các văn bản và công cụ quản lý

Các văn bản và công cụ quản lý có thể bao gồm: Quy chế quản lý CDĐL; Quy trình kỹ thuật canh tác, thu hoạch, chế biến, bảo quản... sản phẩm mang CDĐL; Quy định về trao quyền sử dụng CDĐL; kiểm soát chất lượng sản phẩm mang CDĐL và việc tuân thủ các quy định về sử dụng CDĐL; Quy trình quản lý hiện trạng canh tác, chế biến, kinh doanh; Quy trình cấp và quản lý việc sử dụng tem, nhãn, bao bì sản phẩm...

Thông thường, UBND cấp tỉnh ban hành Quy chế quản lý CDĐL trên toàn tỉnh, trong đó, giao Sở KH&CN (hoặc cơ quan quản lý CDĐL) ban hành các Quy chế quản lý cụ thể và các văn bản liên quan khác đối với từng CDĐL.

Quy chế quản lý CDĐL: nội dung chính bao gồm những quy định chung (đối tượng, phạm vi điều chỉnh); điều kiện sử dụng CDĐL; cơ chế kiểm soát chất lượng sản phẩm mang CDĐL do tổ chức tập thể và do cơ quan kiểm soát chất lượng sản phẩm thực hiện; trách nhiệm của các cơ quan liên quan và điều khoản thi hành.

Quy định về trao quyền sử dụng CDĐL; Quy định về kiểm soát chất lượng sản phẩm mang CDĐL: mục đích là trao/thu hồi quyền sử dụng CDĐL của tổ chức, cá nhân; xác nhận lô sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng để dán tem xác nhận chất lượng; thống nhất quản lý việc sử dụng tem xác nhận chất lượng; đảm bảo tem xác nhận chất lượng sản phẩm được sử dụng đúng theo quy định và chỉ được sử dụng cho các sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng; xử lý các hành vi vi phạm quy trình quản lý; xâm phạm quyền đối với CDĐL. Về nội dung được quy định như sau:

- Đối với việc xác nhận khả năng sử dụng CDĐL và xác nhận chất lượng sản phẩm: trên cơ sở yêu cầu xác nhận đủ khả năng sử dụng CDĐL/xác nhận chất lượng lô sản phẩm đạt tiêu chuẩn của người sản xuất, kinh doanh, cơ quan kiểm soát chất lượng xem xét điều kiện sử dụng CDĐL/kiểm tra chất lượng lô sản phẩm và đề nghị cơ quan quản lý CDĐL quyết định trao quyền sử dụng CDĐL/xác nhận lô sản phẩm nếu đạt tiêu chuẩn. Cơ quan kiểm soát chất lượng cấp tem xác nhận chất lượng cho sản phẩm và lập sổ theo dõi việc cấp và sử dụng tem.

- Đối với việc kiểm soát sản phẩm lưu thông trên thị trường và xử lý vi phạm: khi phát hiện sản phẩm không có tem xác nhận chất lượng, cơ quan kiểm soát tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm. Nếu đạt tiêu chuẩn thì đề nghị gắn tem xác nhận chất lượng và tiếp tục cho lưu thông, nếu không đạt tiêu chuẩn thì truy xuất nguồn gốc sản phẩm và xử lý vi phạm.

Quy trình quản lý hiện trạng canh tác, sản xuất nông sản mang CDĐL: mục đích là thống kê và theo dõi các số liệu về hiện trạng canh tác nông sản của các hội viên trong phạm vi địa phương tương ứng với CDĐL; giám sát và quản lý quy trình kỹ thuật và làm cơ sở để quản lý việc cấp và sử dụng tem, nhãn, bao bì sản phẩm. Nội dung: Chi hội trưởng yêu cầu, hướng dẫn hội viên kê khai hiện trạng canh tác và tổ chức kiểm tra thông tin, xác nhận số liệu và báo cáo Ban kiểm soát. Ban kiểm soát kiểm tra, xác nhận hiện trạng canh tác và đề nghị Ban Chấp hành cấp mã số hội viên. Sau khi có mã số hội viên, Ban kiểm soát lập sổ theo dõi hiện trạng canh tác của từng hội viên.

 Quy trình kiểm tra chất lượng sản phẩm, cấp và sử dụng tem, nhãn, bao bì sản phẩm: mục đích là thống nhất quản lý việc cấp và sử dụng tem, nhãn sản phẩm, bao bì sản phẩm cho các hội viên có quyền sử dụng CDĐL; đảm bảo số lượng tem, nhãn sản phẩm, bao bì sản phẩm được cấp tương ứng với số sản phẩm đủ điều kiện được mang CDĐL. Nội dung: trên cơ sở yêu cầu cấp tem nhãn, bao bì sản phẩm của hội viên, Ban kiểm soát kiểm tra thực tế số lượng sản phẩm và Chủ tịch Hội quyết định cấp tem nhãn, bao bì sản phẩm. Sau khi được Ban Kiểm soát kiểm tra sản phẩm đã phân loại, chế biến, hội viên tiến hành đóng bao bì, gắn tem nhãn và đưa đi tiêu thụ đồng thời Ban Kiểm soát lập sổ theo dõi.

Quy trình kỹ thuật canh tác, thu hái, chế biến, bảo quản... sản phẩm mang CDĐL: mục đích là thống nhất áp dụng quy trình kỹ thuật trong canh tác, thu hái, chế biến, bảo quản sản phẩm mang CDĐL nhằm đảm bảo sự đồng đều về chất lượng sản phẩm và đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất. Nội dung: các quy trình kỹ thuật về chọn giống, phương pháp trồng, chăm bón, quy định về bảo vệ thực vật, thu hoạch, chế biến và bảo quản sản phẩm...

1.3. Nội dung quản lý

Cơ quan quản lý CDĐL: Xây dựng và phê duyệt hoặc trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy định về trao quyền sử dụng CDĐL; Kiểm soát việc sử dụng CDĐL phù hợp với quy định về sử dụng CDĐL đã được ban hành và các quy định pháp luật khác có liên quan; Tiến hành các biện pháp chống lại các hành vi xâm phạm quyền đối với CDĐL; Tiến hành các biện pháp phát triển uy tín, danh tiếng và giá trị của CDĐL. Để thực hiện được nội dung quản lý này, cơ quan quản lý CDĐL phải thành lập hoặc trao cho cơ quan trực thuộc thực hiện chức năng kiểm soát chất lượng (tức là cơ quan kiểm soát chất lượng sản phẩm mang CDĐL).

Cơ quan kiểm soát chất lượng: Kiểm tra, đánh giá năng lực sử dụng CDĐL phục vụ trao quyền sử dụng CDĐL; Kiểm soát chất lượng sản phẩm mang CDĐL được lưu thông, tiêu thụ trên thị trường; Cấp và quản lý việc sử dụng tem xác nhận chất lượng sản phẩm mang CDĐL (nếu có);  Kiểm tra, phát hiện và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi xâm phạm phát sinh trong quá trình sử dụng CDĐL.

Tổ chức tập thể: Xem xét, xác nhận đủ điều kiện và yêu cầu cơ quan quản lý CDĐL trao quyền sử dụng CDĐL cho các thành viên; Quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành viên (diện tích, sản lượng, địa điểm, năng lực sản xuất... của từng thành viên); Nghiên cứu, xây dựng, trình phê duyệt và tổ chức áp dụng, kiểm soát việc áp dụng các quy định về canh tác, chế biến, bảo quản, quy trình sản xuất nông sản mang CDĐL; Xây dựng và quản lý việc sử dụng hệ thống tem, nhãn, bao bì sản phẩm, hệ thống quầy, kệ trưng bày sản phẩm; Nghiên cứu và tổ chức áp dụng các thành tựu khoa học-kỹ thuật nhằm đảm bảo duy trì và nâng cao chất lượng nông sản mang CDĐL; Điều tra, nghiên cứu và tổ chức triển khai các kênh thương mại cho sản phẩm nhằm quảng bá rộng rãi và nâng cao giá trị kinh tế cho nông sản mang CDĐL.

2. Quản lý NHTT

2.1. Các cơ quan tham gia quản lý

Chủ sở hữu NHTT: chủ sở hữu NHTT là tổ chức tập thể được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định hiện hành của pháp luật và là người đứng tên trong Giấy chứng nhận đăng ký NHTT do Cục SHTT cấp.

Chủ thể sử dụng NHTT: là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng NHTT, đáp ứng các điều kiện sử dụng và được trao quyền sử dụng NHTT. Các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mang NHTT là nhân tố trung tâm, quan trọng nhất trong hệ thống quản lý và phát triển NHTT. Họ đóng vai trò quyết định tính thực tiễn và hiệu quả vận hành của hệ thống quản lý.

Các cơ quan, đơn vị liên quan: trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống quản lý và phát triển NHTT, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể tranh thủ sự hỗ trợ và phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị liên quan khác để triển khai các nội dung cần thiết.

2.2. Các văn bản và công cụ quản lý

Quy chế sử dụng NHTT có các nội dung chính sau: Thông tin vắn tắt về NHTT, chủ sở hữu và hàng hóa, dịch vụ mang NHTT; Các điều kiện để được trao quyền sử dụng và các điều kiện chấm dứt quyền sử dụng NHTT; Nghĩa vụ của người sử dụng NHTT: tuân thủ các quy định về sử dụng nhãn hiệu và bảo đảm hàng hoá, dịch vụ đáp ứng các điều kiện quy định, chịu sự quản lý, giám sát của chủ sở hữu, đóng góp phí sử dụng nhãn hiệu (nếu có)…; Quyền của chủ sở hữu NHTT: quản lý, giám sát việc tuân thủ quy chế sử dụng nhãn hiệu, đình chỉ quyền sử dụng nhãn hiệu của người không đáp ứng điều kiện theo quy định của quy chế sử dụng nhãn hiệu…; Cơ chế cấp phép, kiểm soát, kiểm tra việc sử dụng nhãn hiệu và bảo đảm chất lượng, uy tín của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu; Cơ chế giải quyết tranh chấp.

Quy trình trao và thu hồi quyền sử dụng NHTT có các nội dung chính sau: Điều kiện được sử dụng NHTT; Phương pháp đánh giá các tiêu chí để trao hoặc từ chối trao quyền sử dụng NHTT; Thủ tục trao quyền sử dụng NHTT.

Quy trình kỹ thuật sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mang NHTT: nội dung và các yêu cầu của quy trình phụ thuộc vào từng loại hàng hóa, dịch vụ và nhu cầu, định hướng quản lý, phát triển NHTT.

Quy chế sử dụng mẫu nhãn hiệu trên hàng hóa, dịch vụ, có các nội dung chính sau: Tem, nhãn, dấu hiệu gắn trên hàng hóa, dịch vụ; vị trí tem, nhãn, cách thức sử dụng NHTT khi cung cấp dịch vụ…; Phương thức kiểm tra, truy xuất nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở sản xuất khác nhau (mã số, mã vạch…).

3. Quản lý NHCN

3.1. Các cơ quan tham gia quản lý

Chủ sở hữu NHCN: là người đứng tên trong văn bằng bảo hộ NHCN, phải có chức năng, điều kiện kiểm soát, xác định các tiêu chí chứng nhận cho hàng hóa/dịch vụ.

Đối với các hàng hóa/dịch vụ đặc trưng cần chứng nhận nguồn gốc xuất xứ và chất lượng đặc thù, tổ chức chứng nhận nên là cơ quan có chức năng quản lý chuyên ngành của địa phương, có thể là Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng hoặc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Tổ chức chứng nhận phải đảm bảo không trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh hàng hóa/dịch vụ mang NHCN và có đủ khả năng huy động nguồn nhân lực và các điều kiện vật chất, kỹ thuật cần thiết để tiến hành đánh giá chất lượng hàng hóa/dịch vụ mang NHCN.

Các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa/dịch vụ mang NHCN: là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng NHCN, đáp ứng các điều kiện sử dụng và được trao quyền sử dụng NHCN. Các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa/dịch vụ mang NHCN là nhân tố trung tâm, quan trọng nhất trong hệ thống quản lý và phát triển NHCN. Họ đóng vai trò quyết định tính khả thi và hiệu quả vận hành của hệ thống quản lý.

Các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị liên quan: để có thể vận hành hiệu quả hệ thống quản lý và phát triển NHCN, chủ sở hữu nhãn hiệu cần huy động sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị liên quan trong quá trình triển khai các hoạt động quản lý và phát triển NHCN.

3.2. Công cụ quản lý

Quy chế quản lý việc sử dụng NHCN, có các nội dung chính: Thông tin về chủ sở hữu NHCN; Các đặc tính của hàng hóa/dịch vụ được chứng nhận bởi NHCN; Điều kiện để được sử dụng NHCN, điều kiện chấm dứt quyền sử dụng NHCN; Phương pháp xác định, đánh giá các tiêu chí, đặc tính của hàng hóa/ dịch vụ; Cơ chế cấp phép, cách thức sử dụng và phương pháp kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu; Chi phí mà người sử dụng nhãn hiệu phải trả cho việc chứng nhận và quản lý NHCN; Trách nhiệm, quyền lợi của người sử dụng NHCN. Trách nhiệm và quyền hạn của chủ sở hữu NHCN.

Quy trình cấp, thu hồi quyền sử dụng NHCN, có các nội dung chính: Điều kiện được sử dụng NHCN; Phương pháp đánh giá các tiêu chí chứng nhận (nguồn gốc, chất lượng, kỹ thuật canh tác…) để cấp hoặc từ chối cấp quyền sử dụng NHCN; Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng NHCN; Tổ chức quản lý việc sử dụng NHCN.

Quy trình kỹ thuật sản xuất, kinh doanh hàng hóa/dịch vụ mang NHCN, có các nội dung chính: Quy trình kỹ thuật lựa chọn, chế biến, sản xuất nguyên liệu (nếu có); Quy trình kỹ thuật sản xuất thành phẩm hoặc cung cấp dịch vụ; Quy trình kỹ thuật chế biến, bảo quản sản phẩm; Quy trình kỹ thuật đóng gói, gắn tem, nhãn sản phẩm...

Quy chế sử dụng NHCN trên hàng hóa/dịch vụ, có các nội dung chính: Tem, nhãn, dấu hiệu gắn trên hàng hóa/dịch vụ: vị trí tem, nhãn, cách thức sử dụng NHCN khi cung cấp dịch vụ…; Phương thức kiểm tra, truy xuất nguồn gốc hàng hóa/dịch vụ của các cơ sở sản xuất khác nhau (mã số, mã vạch…).

3.3 Nội dung quản lý

Áp dụng các văn bản, quy định vào thực tế quản lý; Tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa/dịch vụ về chủ trương xây dựng NHCN, phương thức quản lý và sử dụng NHCN, kết hợp tập huấn nâng cao kiến thức về sở hữu trí tuệ...; Tổ chức kiểm định, chứng nhận chất lượng hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu; Tổ chức in tem, nhãn và cấp cho các tổ chức, cá nhân đáp ứng được điều kiện sử dụng NHCN; Tổ chức giám sát việc tuân thủ Quy chế sử dụng NHCN: kiểm tra quy trình sản xuất, kinh doanh; kiểm tra chất lượng hàng hóa/dịch vụ lưu thông trên thị trường.

4. Khai thác, phát triển quyền sở hữu trí tuệ đối với đặc sản 

Để thực hiện việc khai thác, phát triển quyền SHTT đối với đặc sản, cần có chiến lược phát triển phù hợp với từng loại sản phẩm.

Các phương tiện truyền thông cơ bản: Logo và dấu hiệu chỉ dẫn địa danh; Tem dán trên sản phẩm đơn lẻ; Bao bì sử dụng cho sản phẩm đơn lẻ để bày bán; Bao bì sử dụng cho nhiều sản phẩm để bày bán/vận chuyển; Nhãn sản phẩm để gắn trên bao bì cho sản phẩm đơn lẻ hoặc cho nhiều sản phẩm; Tem chống hàng giả; Các mẫu truyền thông: poster, biển hiệu đại lý; Các kệ, giá trưng bày, bán sản phẩm và các quầy trưng bày, bán sản phẩm chuẩn để có thể sử dụng trong các hội chợ, triển lãm và đặt tại các siêu thị, cửa hàng....

Ngoài ra, cần lưu ý hệ thống truyền thông văn phòng cho sản phẩm như: danh thiếp, đầu thư, mailing label; fax label; mẫu hóa đơn; đồng phục, thẻ nhân viên; ...

Để phát triển tài sản trí tuệ, cần đẩy mạnh và tăng cường công tác quảng bá, ngoài hình thức quảng bá bằng các phương tiện “tĩnh” như trên, cần có các hoạt động, chiến lược quảng bá, phát triển thị trường bằng các phương tiện “động” như: Các hoạt động truyền thông, quảng cáo tại điểm bán; Trưng bày, trang trí tại điểm bán; Quảng cáo trên các pa-nô khổ lớn; Quảng cáo, truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng; Tham gia các hội chợ, triển lãm nông sản, thực phẩm, hàng tiêu dùng;

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phát triển hệ thống tiêu thụ trên cơ sở các kênh tiêu thụ (siêu thị, đại lý, khách sạn, nhà hàng, bán lẻ, bán sỉ...) và các thị trường tiêu thụ đã có và khai thác mới. Việc lựa chọn phương án, hình thức quảng bá, tiêu thụ sản phẩm cần tùy thuộc loại sản phẩm, đặc thù sản phẩm, đặc thù thị trường hướng tới để đưa ra phương án phù hợp.

Ngoài ra, để khai thác, phát triển giá trị quyền SHTT đối với đặc sản cần đồng thời ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền SHTT. Tùy thuộc tình hình tiêu thụ và tính chất của đặc sản, các chủ thể quyền cần tiến hành đăng ký bảo hộ quyền SHTT ở nước ngoài nơi dự kiến xuất khẩu sản phẩm hoặc được đánh giá là thị trường tiềm năng của sản phẩm.

Tóm lại, có thể nói hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam đã đủ để cho phép thiết lập cơ chế bảo hộ địa danh dưới ba hình thức (CDĐL, NHTT và NHCN). Mỗi hình thức bảo hộ này có các mặt ưu và hạn chế khác nhau tùy vào từng trường hợp cụ thể được áp dụng. Việc lựa chọn hình thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với địa danh dùng cho các đặc sản địa phương phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tình trạng bảo hộ đã được thiết lập đối với địa danh; đặc thù của các hình thức bảo hộ; điều kiện quản lý, khả năng của địa phương; đặc biệt là phương án để tổ chức quản lý, và khai thác quyền SHTT đó trên cơ sở phát huy những ưu thế của hình thức bảo hộ.

Nguyễn Hùng
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy câp tổng 9.620.061
Truy câp hiện tại 166